MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST-AMERICAN WORLD)

Image

 

Kẻ Thách Thức – (Tiếp theo) – Kỳ 4

Nhiều quan chức ngoại giao Trung quốc kỳ cựu đã phấn khích khi bàn về công cuộc vươn đến sức mạnh của Trung quốc. „Chuyện ấy làm tôi kinh sợ“, Wu Jianmin, viện trưởng Viện Đại học Đối ngoại của Trung quốc đồng thời là cựu đại sứ Trung quốc tại LHQ đã nói như thế. „Chúng tôi vẫn còn là một nước nghèo, đang phát triển. Tôi không muốn thiên hạ nghĩ đến chúng tôi trong… các ý nghĩa cường điệu“. Xinghai Fang, phó giám đốc điều hành Thị trường Chứng khoán Thượng Hải đã phát biểu trong luận điệu tương tự: „Xin nhớ rằng, GDP cá nhân của Hoa Kỳ là hai mươi lăm lần hơn chúng tôi. Chúng tôi còn một con đường rất dài để đi tới“. Mối lo ngại đó đã tự biểu lộ trong cuộc tranh cãi thú vị trong nội bộ Trung quốc qua việc Bắc Kinh nên bày tỏ học thuyết về chính sách đối ngoại của mình như thế nào. Vào năm 2002, Zheng Bijian, nguyên là giám đốc trường Đảng trung ương, sáng tạo ra ý nghĩa „vươn dậy trong hòa bình“ để chuyên chở ý định di chuyển lặng lẽ của Trung quốc lên các nấc thang toàn cầu. Khi Zheng phát biểu, người dân lắng nghe, bởi vì thủ trưởng cũ của ông là chủ tịch Hồ Cẩm Đào. Chủ tịch họ Hồ và thủ tướng Ôn Gia Bảo thường sử dụng đến câu chữ này, tạo cho nó một sự chấp nhận chính thức. Nhưng sau đó nhóm chữ này cũng không còn được ưa thích nữa.

Nhiều nhà phân tích Tây phương từng nghĩ rằng vấn đề của nhóm chữ nằm ở hai chữ „hòa bình“ khiến có thể giới hạn các lựa chọn của Trung quốc về vấn đề đối với Đài Loan. Thực ra, không hề có sự chia rẽ nội bộ nhiều lắm về vấn đề đó. Trung quốc vốn xem Đài Loan như một vấn đề nội bộ và tin rằng mình có đủ tất cả quyền lực để dùng đến sức mạnh – như một giải pháp cuối cùng – khi cần đến. Như Zheng đã giải thích với tôi, „Lincoln đã từng đánh nhau trong một cuộc chiến tranh để giữ gìn thống nhất, và quý vị vẫn có thể nói rằng Hoa Kỳ đã từng vươn dậy trong hòa bình“. Một số nhà lãnh đạo chính của Trung quốc lo ngại về chữ thứ hai của câu chữ này, „vươn dậy“ (dịch chuẩn hơn sẽ phải là „đẩy mạnh“ hay „xốc tới“). Các nhà ngoại giao cao cấp chùn bước trước ý tưởng đi vòng quanh thế giới để mà bàn thảo về sự vươn dậy của Trung quốc. Đặc biệt, họ lo ngại về các phê bình ở Hoa Kỳ vốn xem sự vươn dậy của Trung quốc như một mối đe dọa. Lý Quang Diệu đề nghị Trung quốc nên nói về một cuộc „phục hưng“ thay vì một sự vươn dậy và các lãnh đạo Đảng đã tranh luận về nhóm từ trong thời gian nghỉ tại Beidaihe mùa hè năm 2003. Kể từ đó, họ nói về „sự phát triển trong hòa bình“. Zheng nói „các ý niệm thì như nhau, chỉ khác nhau ở các từ chữ“. Đúng thế, nhưng sự thay đổi trong từ chữ phản ánh mối lo của Trung quốc với việc không làm rối một cọng lông nào khi họ nỗ lực đi về phía trước.

Chế độ đang làm việc để bảo đảm là người dân Trung quốc cũng hiểu được chiến lược của mình. Vào năm 2006 và 2007, truyền hình Trung quốc trình chiếu Sự Vươn dậy của một Đất nước Vĩ đại, một bộ phim mười hai tập, rõ ràng được dựng lên như là một hành động thể hiện sự giáo dục công chúng. Cứ nhìn vào bản chất chính trị cô đọng về nội dung chủ đề, người ta có thể chắc chắn rằng bộ phim đã được hiệu đính cẩn thận để trình bày quan điểm mà chính phủ muốn được phát hình. Bộ phim rất thông minh và thâm thúy, sản xuất theo lối của BBC hay PBS, chuyên chở sự nổi dậy của chín quyền lực vĩ đại, từ Bồ Đào Nha đến Tây Ban Nha, Liên Xô và Hoa Kỳ, với đầy đủ các phỏng vấn những nhà học giả trên khắp thế giới. Các phần nói về từng quốc gia riêng biệt hầu như cân đối và xác thực. Sự vươn dậy của Nhật bản, một đề tài nhạy cảm ở Trung quốc được thực hiện công bằng với một chút nỗ lực nhằm thúc dậy niềm cuồng say có tính chủ nghĩa quốc gia về những cuộc tấn công của Nhật Bản vào Trung quốc; sự vươn dậy của Nhật sau chiến tranh được ca ngợi nhiều lần lập đi lập lại. Một số điểm nhấn mạnh có hiệu quả. Chẳng hạn như, các phân đoạn về Hoa Kỳ tập trình bày rộng rãi về các chương trình của Theodore và Franklin Roosvelt nhằm điều chỉnh và sửa chữa chủ nghĩa tư bản, nêu bật vai trò của nhà nước trong chủ nghĩa tư bản. Đồng thời cũng có một số câm lặng có thể đoán hiểu được nhưng thật đáng xấu hổ như việc hoàn toàn bỏ qua về những kinh hoàng, thanh trừng hoặc trại tù Gulag trong chương trình dài một giờ đồng hồ về Liên Xô. Tuy nhiên cũng có những thú nhận đáng giật mình, gồm những ngợi ca đáng kể về hệ thống chính phủ đại nghị của Hoa Kỳ và Anh quốc về khả năng mang lại tự do, tính hợp pháp và ổn định chính trị cho quốc gia của họ.

Thông điệp căn bản của loạt phim truyền hình là con đường dẫn đến sự vĩ đại của một đất nước nằm trong năng lực kinh tế của đất nước và chủ nghĩa quân phiệt, còn đế chế và sự gây hấn chỉ dẫn đến ngõ cụt. Quan điểm đó được thực hiện lập đi lập lại. Phần cuối – rõ ràng là về “những bài học” của bộ phim – trình bày những bí quyết đưa đến quyền lực vĩ đại: liên kết quốc gia, thành công về kinh tế và kỹ thuật, ổn định chính trị, sức mạnh quân sự, sáng tạo văn hóa và sức thu hút. Phần cuối được giải thích như là sự hấp dẫn về các tư tưởng của một đất nước, tương thích với khái niệm về một “sức mạnh mềm mỏng” được khai triển bởi Joseph Nye, một trong những học giả được phỏng vấn trong bộ phim. Phần này kết thúc bằng một khẳng định rằng, trong một thế giới mới, một quốc gia chỉ có thể giữ được độ sắc bén cạnh tranh của mình nếu có được khả năng kỹ thuật và kiến thức để duy trì được những cái mới. Nói tóm lại, con đường đến sức mạnh đi quả ngả thị trường chứ không đi qua ngả đế chế.

Chính sách đối ngoại và Thượng đế

Có phải cách nghĩ của Trung quốc, người Tàu, về thế giới thì khác biệt ? Trong nhiều ý nghĩa thì không phải. Các bài học rút ra từ lịch sử của những quyền lực vĩ đại là những bài học mà nhiều người Tây phương cũng rút ra được – và thực ra, nhiều người được phỏng vấn là các học giả phương Tây. Điều này phản ánh một hiểu biết tương tự đã từng đưa dắt Đức và Nhật trong những năm gần đây. Ứng xử với thế giới của Trung quốc là thực tiễn phản ánh bối cảnh, đặc lợi và sự tự nhận biết mình như một quốc gia đang phát triển. Bất chấp cái bóng che vĩ đại bao trùm lên thế gian của mình, Trung quốc vẫn tự biết mình là một quốc gia với hàng trăm triệu dân cực nghèo khổ. Các quan tâm bên ngoài của họ, do đó phải là các quan tâm nhiều đến sự phát triển. Khi được hỏi về những vấn đề như nhân quyền, một số viên chức trẻ tuổi của Trung quốc thú nhận rằng đấy đơn giản không phải là mối quan tâm của họ – như thể họ nhìn đến những thứ xa hoa mà mình không kham nổi. Thảo nào ý nghĩa này được nâng cao bởi thứ hiện thực hóa nhạy bén rằng nhân quyền ở hải ngoại gắn liền với những gì ở hải ngoại. Bởi vì, nếu Trung quốc phê phán chế độ độc tài ở Burmese thì họ sẽ nói gì về chính những người bất đồng chính kiến của mình?

Tuy nhiên cũng có những yếu tố văn hóa rộng hơn trong lối nghĩ về thế giới của Trung quốc. Điều có thể dễ dàng phóng đại tầm quan trọng của văn hóa, dùng văn hóa như một vỏ ngoài cho các chính sách bám vào lợi quyền. Tuy nhiên, có những khác biệt thực sự giữa thế giới quan của Trung quốc và phương Tây (nhất là đôi với Hoa Kỳ) đáng để tìm hiểu. Các khác biệt này bắt đầu với Thượng đế. Trong một khảo sát của PEW, khi được hỏi phải chăng một người phải tin vào Thượng đế mới được xem là có đạo đức, một đa số khá thoải mái người Mỹ (57 phần trăm) trả lời phải. Tuy nhiên ở Nhật và Trung quốc, một đa số lớn hơn nhiều trả lời không phải – tại Trung quốc là con số 72 phần trăm khổng lồ. Đây là một sai biệt khác thường và khá ấn tượng ngay từ nguyên tắc, dù ngay cả đối với châu Á. Vấn đề ở chỗ không phải đất nước ấy là vô đạo đức – thực ra tất cả các bằng chứng mạnh mẽ đã mang đến sự trái ngược hẳn – nhưng ở chỗ là cả đất nước ấy và dân tộc ấy đều không tin vào Thượng đế.

Điều này có thể gây kinh hoảng nhiều người ở phương Tây, nhưng đối với các học giả về nội dung này thì đây là một thực tế được nhiều người biết đến. Những người miền đông Á châu không tin rằng thế gian có một Đấng tạo hóa, đấng đã thiết lập một hệ thống các luật lệ đạo đức rắc rối mà mọi người phải tuân theo. Đây là khái niệm về Thượng đế của các con cháu Abraham hay Do thái, được chia xẻ bởi Do Thái giáo, Ki tô giáo và Hồi giáo, nhưng khá là xa lạ đối với văn minh Trung quốc. Ngưòi ta thường diễn tả tôn giáo của Trung quốc là Khổng giáo. Nhưng Joseph Needham, một thức giả xuất sắc về Khổng giáo, nhận xét rằng nếu ta nghĩ rằng tôn giáo là một lý thuyết về một bậc thần-tạo hóa siêu việt, thì Khổng giáo đơn giản không phải là một tôn giáo. Khổng tử chỉ là một người thầy dạy học, không phải một nhà tiên tri hay một con người thiêng liêng trong bất cứ ý nghĩa nào. Các thư tịch của ông, hoặc các chương đoạn còn sót lại, là những gì phi tôn giáo một cách rõ rệt. Ông đặc biệt cảnh cáo các suy nghĩ về thần thánh, thay vào đó, ông đặt ra các lề luật cho sự thủ đắc kiến thức, cư xử đạo đức, duy trì ổn định xã hội và tạo nên một nền văn minh có trật tự tốt. Công trình của ông đa phần giống như các sách vở của các triết nhân thời Khai sáng hơn là với các kinh sách tôn giáo.

Thực ra, Khổng tử rất được ưa chuộng trong thời Khai sáng. Các kinh điển của Khổng tử, Needham thuật lại: „đã được đọc một cách khao khát bởi tất cả các bậc tiền bối của Cách mạng Pháp, từ Voltaire, Russeau, d’Alembert, Diderot v.v… Giữa những năm 1600 và 1649, 30 đến 50 tựa sách có liên quan đến Trung Hoa xuất hiện ở Âu châu mỗi thập niên, giữa những năm 1700 và 1709, có 599 công trình về Trung Hoa đã được xuất bản. Cơn điên cuồng xuất bản sách về Trung Hoa trùng khớp với hậu quả của cuộc Chiến tranh Ba mươi năm (1618-1848), khi tôn giáo đã đưa đẩy đến cuộc tắm máu lố bịch. Nhiều người Âu châu tự do đã lý tưởng hóa Khổng học vì những căn bản của triết lý này về tự nhiên, đối chọi với luật lệ, thần thánh. Voltaire đã diển tả đơn giản trong Tự điển triết học của ông: „Không mê tín, không huyền thoại ngu xuẩn, không một điều gì của học thuyết này xúc phạm đến tự nhiên và lẽ phải“. Sau này Samuel Kant đã gọi Khổng tử là „Socrates người Trung Quốc“ Leibniz, bậc triết gia từng dạng chân trên đường ranh giữa tôn giáo và chủ thuyết thế tục, đã khá cực đoan khi lập luận rằng „Chúng ta cần những phái đoàn truyền giáo từ người Trung quốc, những người có thể dạy chúng ta sử dụng và thực tập một tôn giáo tự nhiên…“

Những nhà tư tưởng ban đầu của thời Khai sáng đã ca tụng Khổng học vì triết thuyết này dựa vào lẽ phải hơn là thần thánh như một hướng đạo cho công việc của con người. Một luận đề đã khai triển rằng: Trong khi châu Âu có thể đi xa hơn trong những tiến bộ về khoa học kỹ thuật, Trung quốc đã có „nhiều tiến bộ hơn về luân lý“, một “tổ chức dân sự siêu đẳng“ (căn cứ trên giá trị chứ không căn cứ vào sự ban phát) và là „một triết lý thực tiễn“, tất cả đã „sản xuất thành công được một xã hội hòa bình và một hệ thống thứ bậc xã hội chặt chẽ“. Essai sur les moeurs của Voltaire vào năm 1759 là „cao điểm“ của sự thân Trung quốc trong thời đại Khai sáng, theo học giả Đức Thomas Fuchs, ông đã „chuyển hóa được Trung Hoa trở thành một nền chính trị không tưởng và một nhà nước lý tưởng của chủ nghĩa tuyệt đối được giác ngộ; ông đã giương cao tấm gương của Trung Hoa để khiêu gợi phản ứng tự phê bình trong những vương quốc Âu châu. Trong những năm sau, vương quyền thức tỉnh nhất, Đại đế Frederick, đã viết Report of Phihiru, một loạt những lá thư giả tạo từ một viên sứ thần Trung Hoa ở Âu châu gởi cho hoàng đế Trung hoa. Mục đích của Frederick là để cho thấy sự tương phản giữa lòng tin mù quáng của giáo hội Công giáo với tính hợp lý của người Trung Hoa.

Người Tây phương thường khó có thể hiểu được khác biệt giữa những nơi chốn tôn giáo ở Trung quốc và những nơi ở đất nước mình. Hãy thử xem những kinh nghiệm của Matteo Ricci, nhà truyền đạo Bồ Đào Nha trong vùng Viễn Đông, như đã được viết lại bởi sử gia vĩ đại Jonathan Spence của trường ĐH. Yale. Vào những ngày đầu tiên của ông ở Trung Hoa vào những năm 1550, trong một nỗ lực để thể hiện cá nhân mình dưới một hình ảnh tôn kính, ông đã cạo râu tóc và quấn mình trong một loại cà sa của Phật giáo. Chỉ đến mấy năm sau ông mới hiểu được lối hoá trang như thế này đã có ảnh hưởng ra sao. Giới sư sãi và những bậc tu hành không được tôn trọng lắm ở Trung Hoa. Ông lại đã khởi sự du hành trên kiệu hoặc thuê mướn nhân lực cõng ông trên vai như những người có quyền chức thường làm như thế. Sau đó, Ricci đã viết cho Claudio Acquavia, ở dòng Jesuit vào năm 1592, „Danh xưng của người ngoại quốc và những người tu hành bị coi như đáng khinh ở Trung Hoa do đó chúng tôi cần những thứ này và các công cụ khác để tỏ cho họ thấy rằng chúng tôi không phải là những tu sĩ đáng khinh như các tu sĩ của họ“. Đến năm 1595, Ricci đã vứt bỏ những trang phục khổ hạnh của một vị sư, vốn đã cản trở công việc truyền đạo của mình, để thay vào đó trang phục của một thức giả Khổng học. Thoạt đầu Ricci đã từng khinh miệt những người theo Khổng học vì không tin vào Thiên chúa, thiên đàng và sự bất tử của các linh hồn. Ricci đã viết đến một người bạn rằng „Trường dạy Khổng học‘ là „đền thờ thực sự của giới trí thức“. Nhưng cuối cùng ông lại nhìn thấy rằng dù cho Khổng học duy trì một „lập trường trung dung nghiêm khắc“ về các vấn đề Thiên chúa và đời sống sau khi chết, Khổng học đã có một ý thức mạnh mẽ về luân lý, đạo đức và công lý. Tương tự như các nhân vật khác của thời Khai sáng, ông đã trở nên tin rằng Phương Tây phải nên học hỏi từ Khổng Học.

(Còn tiếp)

_____________________

i. Tôi biết ơn ông Lý quang Diệu về việc đã nói với tôi về loạt phim này và đã thu xếp gởi đến cho tôi xem. Một đài truyền hình Singapore đã chiếu tòn bộ phim này với phu đề Anh ngữ cho nên tôi đã được xem tất cả chương trình.

ii. Theo Joseph Needham, Within The Four Seas: The Dialogue of East and West (London: Allen and Unwin, 1969) tr. 43

iii. Sđd. Tr. 90

iii. Theo Thomas Fuchs :“The European China:Receptions from Leibniz to Kant“ Journal of Chinese Philosophy 33, số 1 (2006), tr 43.

Advertisements

Hinterlasse einen Kommentar

Eingeordnet unter Dịch Thuật

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST-AMERICAN WORLD)

Kẻ Thách Thức
(Tiếp theo) – Kỳ 3

Nhiều người cầm bút ở Mỹ đã vội vàng khẳng định là Trung quốc bác bỏ nhận định rằng thay đổi kinh tế sẽ dẫn đến thay đổi về chính trị – chủ nghĩa tư bản sẽ dẫn đến dân chủ. Tuy Trung quốc có thể chứng tỏ là một ngoại lệ nhưng còn quá sớm để nói như thế. Quy luật ấy đã đúng ở mọi nơi từ Tây Ban Nha đến Hy Lạp, từ Nam Triều Tiên đến Mễ Tây Cơ: những quốc gia mà công cuộc thị trường hóa và hiện đại hóa đã bắt đầu thay đổi chính trị vào thời điểm họ đạt được tình trạng thu nhập trung bình (phân loại một cách chung chung là vào khoảng giữa $5000 và $10.000). Do bởi mức thu nhập của Trung quốc vẫn còn thấp hơn mức ấy, không thể lập luận rằng đất nước này đã có thể xác định được khuynh hướng này. Và một khi các chuẩn mực của Trung quốc về đời sống, cải cách chính trị tăng lên sẽ trở thành một vấn đề không ngừng khẩn thiết. Chế độ này hầu như sẽ phải đối diện với những thử thách nghiêm trọng trong vòng mười lăm năm tới, ngay cả nếu như điều này không có nghĩa là Trung quốc sẽ xoay chuyển thành một kiểu dân chủ tự do Tây phương nhanh chóng. Nhiều khả năng là trước tiên họ sẽ chuyển hóa vào một thứ chế độ „pha trộn“, đa phần giống như nhiều quốc gia phương Tây trong thế kỷ mười chín và các quốc gia miền đông Á châu trong những năm 1970, 1980, vốn phối hợp được sự tham dự phổ biến của một số kiểm soát của cả giới ưu tú và thành phần tôn ti thứ tự. Hãy nhớ rằng Nhật Bản là một quốc gia trưởng thành nhất về dân chủ ở Á châu, và quốc gia này có một đảng cầm quyền chưa từng mất thế lực trong vòng sáu mươi năm qua.

Vào cuối năm 2006, trong cuộc gặp gỡ với một phái đoàn Hoa Kỳ đến viếng thăm, thủ tướng Trung quốc Ôn (Gia Bảo) đã được hỏi rằng các nhà lãnh đạo Trung quốc muốn nói đến ý nghĩa gì với từ „dân chủ“ khi họ nói rằng đất nước này đang đi đến tình trạng ấy. Họ Ôn đã giải thích rằng đối với họ từ ngữ này mang ba thành phần quan trọng: „bầu cử, độc lập phán xét và sự giám sát căn cứ vào kiểm tra và cân đối“. John Thornton, vị giám đốc của Goldman Sachs quay sang các học giả Trung quốc dẫn đạo phái đoàn, nghiên cứu các lãnh vực này kỹ lưỡng để tìm ra rằng quả đã có một số di chuyển (nhỏ) đến việc bầu cử ở cấp tỉnh, nhắm đến việc ngăn ngừa tham nhũng nhiều hơn và ngay cả cũng có một số chuyển động đi đến một hệ thống pháp luật tốt hơn. Vào năm 1980, các toà án Trung quốc nhận 800.000 vụ xử kiện, năm 2006 họ nhận một số lượng mười lần nhiều hơn thế. Trong một bài luận thuyết cân đối trong tờ Foreign Affairs, Thorton vẽ nên bức tranh về một chế độ di chuyển lưỡng tự và chậm chạp đến sự mở rộng và có trách nhiệm hơn“.

Những bước tiệm tiến ấy có lẽ chưa đủ. Những người cộng sản lãnh đạo Trung quốc nên đọc, và đọc lại Marx của họ. Karl Marx là một nhà tư tưởng và kinh tế lắm điều, nhưng ông là một thiên tài về khoa học xã hội. Một trong những thấu hiểu quan trọng của ông là, khi một xã hội thay đổi nền tảng kinh tế, hệ thống chính trị dựa trên đó cũng thay đổi một cách không tránh khỏi. Khi các xã hội hướng đến thị trường hóa nhiều hơn, Marx lập luận, họ có khuynh hướng trở thành dân chủ. Các ghi chép lịch sử đã khẳng định sự liên hệ giữa kinh tế thị trường và dân chủ này qua quá trình tự nhiên với một số thời gian trì trệ. Ngoại trừ những quốc gia có sẵn nền thịnh vượng từ dầu hỏa, ngày nay trên cả thế giới chỉ có một quốc gia từng đạt đến hạng mục của Tây phương về phát triển kinh tế tuy chưa phải là một quốc gia hoàn toàn thực sự dân chủ – đó là Singapore. Nhưng Singapore, một đất nước nhỏ như một thành phố với một giới cai trị ưu tú có năng lực khá khác thường, vẫn còn là một ngoại lệ bất thường. Nhiều giới lãnh đạo đã từng thử lặp lại luật cân bằng của Lý Quang Diệu, thực hiện hiện đại hóa và thịnh vượng trong khi vẫn duy trì thống trị về chính trị. Không một quốc gia nào từng thành công về lâu dài. Và ngay cả Singapore cũng đang thay đổi nhanh chóng để trở thành một xã hội cởi mở hơn – ngay cả trong một số vấn đề (đặc biệt là các vấn đề có tính xã hội và văn hóa như đồng tính luyến ái) còn cởi mở hơn so với các xã hội miền Đông Á châu khác. Hãy nhìn vào hàng chục quốc gia từng phát triển trong thập niiên qua, từ nam Triều tiên đến Argentina hay Turkey, ta tìm thấy một khuôn thức rất rõ: một nền kinh tế có căn bản thị trường sẽ khiến đạt đến được tình trạng thu nhập trung bình, qua đường dài, tiến đến một nền dân chủ tự do. Điều này có thể, như nhiều học giả từng ghi nhận, là sự tổng quát hóa duy nhất và quan trọng nhất từng được ghi chép rõ ràng nhất trong ngành khoa học chính trị.

Nhiều nhà lãnh đạo thuộc thế hệ trẻ hơn của Trung quốc am hìểu được tình trạng tiến thoái lưỡng nan mà đất nước mình đang đối diện và kín đáo thảo luận về nhu cầu nới lỏng hệ thống chính trị của họ. „Người khôn ngoan nhất trong Đảng không cần nghiên cứu học hỏi về cải cách kinh tế“, một nhà báo vốn có các liên hệ gần gũi với thành phần lãnh đạo ở Bắc kinh đã nói với tôi „Họ học hỏi về cải cách chính trị“. Hàng bộ trưởng ở Singapore xác nhận rằng các viên chức Trung quốc đã bỏ ra rất nhiều công sức để nghiên cứu hệ thống từng được xây dựng bởi Lý Quang Diệu, và đảng Cộng sản cũng gởi các phái đoàn đến Nhật Bản và Thụy Điển để tìm hiểu làm thế nào các quốc gia này tạo được một nền chính trị dân chủ bằng một đảng duy nhất. Họ nhìn vào hệ thống chính trị, các luật lệ bầu cử, các lợi điểm hoặc bất lợi về bản chất và những chướng ngại bên ngoài phải vượt qua. Dù đây là những nghiên cứu giả tạo hay những nỗ lực thực sự để tìm kiếm các phương cách mới nhằm duy trì kiểm soát, những điều này cũng cho thấy rằng đảng Cộng sản này hiểu được mình phải thay đổi. Nhưng thử thách đối với Trung quốc không phải là vấn đề của kỹ trị mà là chính trị. Đó không phải là vấn đề của tái phối trí lại quyền lực mà là buông bỏ quyền lực ra – đập vỡ những quyền lợi được ban bố, phá bỏ mạng lưới bảo trợ ban phát và từ bỏ những đặc quyền đã được định chế hóa. Không một điều nào như thế này có nghĩa là phải từ bỏ kiểm soát của chính phủ tuy rằng tối thiểu là sẽ đưa đến được sự thu hẹp vai trò, giới hạn và thẩm quyền của chính phủ. Và với tất cả những huấn luyện về nền quản trị mới, phải chăng Đảng Cộng sản Trung quốc đang sẵn sàng cho bước nhảy vĩ đại?

Hầu hết các chế độ chuyên quyền vốn đã hiện đại hóa nền kinh tế của mình – như Đài Loan, Nam Triều Tiên, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha – đã từng vượt qua những thay đổi chính trị để tiếp tục nổi lên được tính cách chính thống và sự ổn định hơn. Trước đây Bắc Kinh từng đối diện với các thử thách và đã thích ứng được. Và ngay cả nếu như chế độ này vụng về thu vén chuyển biến này, các rối loạn và biến động chính trị cũng sẽ không ngăn cản Trung quốc phát triển. Bất kể tương lai chính trị của họ ra sao, sự xuất hiện của Trung quốc trên sấn khấu thế giới sẽ không bị đảo ngược. Các lực lượng tiếp liệu cho sự nổi dậy của họ sẽ không biến mất đi ngay cả nếu như chế độ hiện hành xụp đổ – hay đa phần có thể là – chia nhỏ ra thành những phe cánh. Nước Pháp, sau cuộc cách mạng của mình, đã trải qua hai thế kỷ với những khủng hoảng chính trị, đi qua hai đế chế, một nền độc tài gần như kiểu phát xít và bốn nền cộng hòa. Tuy nhiên sau những xáo động chính trị này, Pháp đã cực thịnh về kinh tế và vẫn còn là một trong những quốc gia giàu có nhất thế giới.

Trung quốc khao khát cho sự thành công và điều này rất có thể sẽ là một nguyên nhân chính yếu cho sự nổi dậy lâu dài của họ. Vào thế kỷ hai mươi, sau hàng trăm năm nghèo khổ, đất nước này đã đi qua sự xụp đổ của vương triều, nội chiến và cách mạng để chỉ tự tìm được phiên bản địa ngục về chủ nghĩa cộng sản của Mao. Họ đã mất đi 38 triệu người trong cú nhảy vĩ đại, một thử nghiệm dã man trong công cuộc tập thể hóa. Rồi họ đã tự mình đào bới sâu hơn trong cô lập và huỷ diệt toàn bộ giai cấp khoa bảng có chuyên môn trong cuộc cách mạng Văn hóa. Không như Ấn độ, vốn có thể tự hào về nền dân chủ của họ dù kinh tế phát triển chậm, Trung quốc vào những năm 1970 đã mất đi bao nhiêu cơ hội để có thể ngửng cao đầu. Rồi đến cải cách của họ Đặng. Ngày nay, các nhà lãnh đạo Trung quốc, các thương nhân và dân chúng nói chung cùng có một khao khát như nhau: họ đều muốn tiếp tục tiến về phía trước. Họ sẽ không vô tình ném bỏ phí ba thập niên tương đối ổn định và sung túc.

Che dấu ánh sáng của mình

Bất cứ điều gì xảy ra với nội bộ của Trung quốc gần như sẽ khiến phức tạp đời sống về mặt quốc tế. Phạm vi sức mạnh của họ – kinh tế, chính trị, quân sự – bảo đảm cho ảnh hưởng của mình vượt xa khỏi biên giới. Những quốc gia có khả năng như thế này không phải lúc nào cũng có. Trải qua gần hai trăm năm, danh sách những quốc gia tương tự như thế hiện nay – Hoa Kỳ, Anh quốc, Pháp, Đức, Nga – đã không hề thay đổi. Các quyền lực vĩ đại cũng giống như các nữ danh ca: họ xuất hiện và rời khỏi sân khấu quốc tế với xao động hết sức lớn. Hãy nghĩ đến sự nổi dậy của Đức và Nhật trong đầu thế kỷ mười tám, hay sự tụt dốc của đế chế Hapsburg và Ottoman trong cùng thời gian ấy, khiến đã đem lại các khủng hoảng không kể xiết trong vùng Balkans và vùng Trung đông hiện đại rối rắm.

Trong những năm gần đây, khuôn mẫu ấy không còn vững lắm. Đất nước Nhật Bản và Đức hiện đại đã trở nên những nền kinh tế đứng thứ nhì và thứ ba thế giới nhưng vẫn thụ động một cách đáng chú ý về quân sự và chính trị. Và cho đến nay, Trung quốc đã đến với vị trí của mình với không nhiều gián đoạn. Trong thập niên đầu tiên của công cuộc phát triển, những năm 1980, Trung quốc thực chẳng hề có một chính sách đối ngoại. Hay nói cho đúng hơn, chiến lược phát triển của họ chính là chiến lược xuất chúng của chính họ. Bắc kinh nhìn thấy mối quan hệ tốt với Hoa Kỳ như chìa khóa cho phát triển của mình, một phần bởi vì họ đã muốn lui tới nền công nghệ tân tiến nhất và thị trường lớn nhất thế giới. Trong Hội đồng Bảo An LHQ, Trung quốc thường ủng hộ hoặc tối thiểu là tránh không phủ quyết các giải pháp gì mà Hoa Kỳ đỡ đầu. Nói rộng hơn, họ đã cố gắng giữ đầu mình cúi xuống, như họ Đặng đã nói, để nhằm „che dấu ánh sáng của mình trong giạ lúa“. Chính sách không can thiệp, không đương đầu này hầu như vẫn duy trì. Với ngoại lệ của bất cứ điều gì liên quan đến Đài Loan. Bắc Kinh có khuynh hướng không khiêu khích với các chính phủ khác. Trọng tâm vẫn duy trì vào sự phát triển. Trong huấn thị dài hai tiếng rưỡi tại Hội nghị trung ương Đảng năm 2007, chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã nhắc đến các nội dung về kinh tế, tài chính, kỹ nghệ, xã hội và môi trường trong từng chi tiết nhỏ – nhưng đã hầu như lờ đi chính sách về đối ngoại.

(Còn tiếp)

i. Theo John Thornton „Longtine Coming: The Prospects for Democracy in China“ Foreign Affairs 87, số 1 (Jan./Feb. 2008) tr. 2-22.

Hinterlasse einen Kommentar

Eingeordnet unter Dịch Thuật

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST- AMERICAN WORLD)

Kẻ Thách Thức – (Tiếp theo)
Kỳ 2

Kế hoạch Trung ương có thể hữu hiệu được chăng?

Có những người nghi ngờ thành tích kinh tế của Trung quốc. Một số học giả, ký giả báo chí lập luận rằng các con số có thể là bá láp, quá đáng hoặc bị mua chuộc, các ngân hàng đang nhấp nhổm bên bờ vực, các căng thẳng trong khu vực đang chồng chất, bất công đang gia tăng một cách nguy hiểm – và tình hình đang đi đến nguy kịch. Tuy nhiên, thật cũng công bằng để vạch ra rằng rất nhiều người đã từng phát biểu như thế từ cả hai thập niên qua, và cho đến nay, tối thiểu là tiên đoán trọng tâm của họ – chế độ xụp đổ – vẫn chưa xảy ra. Trung quốc có rất nhiều khó khăn, nhưng họ vẫn có một điều mà tất cả các quốc gia đang phát triển khác thèm chết được – đó là sức phát triển khủng khiếp. Một cái bánh phình to ra sẽ tạo thêm nhiều vấn đề khác, dù có ghê gớm đến đâu, cũng tương đối giải quyết được. Học giả Minxin Pei, một trong những nhà phê bình thông minh nhất của chế độ, đã dễ dàng nhìn nhận rằng „so với các nước đang phát triển khác, câu chuyện của Trung quốc là một sự thành công hơn rất nhiều với những gì chúng ta có thể nghĩ ra“.

Đối với một chế độ có vỏ bọc là Cộng sản, Bắc Kinh thẳng thừng một cách lạ lùng trong sự chấp nhận chủ nghĩa tư bản của mình. Có lần tôi hỏi một viên chức Trung quốc giải pháp tốt nhất cho vùng đồng quê nghèo đói là gì. Câu trả lời của ông: „Chúng tôi phải để cho các thị trường làm việc. Các thị trường sẽ lôi người dân ta khỏi mảnh đất để đi vào kỹ nghệ, rời khỏi nông trại để đi vào đô thị. Đó là câu trả lời tốt nhất theo lịch sử về nạn nghèo đói ở nông thôn. Chúng tôi cần phải duy trì kỹ nghệ hóa“. Khi tôi hỏi những câu tương tự với người Ấn hay người châu Mỹ Latin, họ sẽ đi vào các giải thích phức tạp về nhu cầu thịnh vượng thôn quê, trợ giúp cho các nông dân nghèo và các chương trình như thế, tất cả được đưa ra để làm chậm các lực thị trường và trì trệ – đôi khi còn làm đau đớn- tiến trình kỹ nghệ hóa thúc đẩy bằng thị trường- lịch sử.

Nhưng lối tiếp cận của Bắc Kinh cũng từng là một sự khác biệt từ những gì vốn được ủng hộ bởi nhiều nhà kinh tế về thị trường tự do – một chương trình về những cải cách đồng loạt trên tất cả mọi mặt đôi khi còn được gọi là „Đồng thuận Washington“. Đặc biệt nhất, lối tiếp cận này cũng khác với lối chữa trị xáo động của Nga từng được xử dụng dưới thời Boris Yeltsin, mà các nhà lãnh đạo Trung quốc đã nghiên cứu kỹ lưỡng và thường xem là một thí dụ tiêu cực, có lẽ đồng ý với diễn đạt mạnh mẽ của Strobe Talbot là „quá nhiều xáo động nhưng quá ít chữa trị“. Thay vì một hiện tượng big bang, Bắc Kinh đã chọn lối tiếp cận tiệm tiến, lối tiếp cận mà tôi sẽ gọi là một chiến lược phát triển-từng-mẫu-thức. Thay vì lập tức đóng cửa tất cả các xí nghiệp không có hiệu quả, cắt đứt các món nợ xấu và ban hành tư nhân hoá trên một bình diện lớn, họ đã xây dựng một chiến lược nhằm phát triển kinh tế quanh những khu vực thua lỗ này, để qua thời gian những khu vực xấu này sẽ trở nên phần nhỏ dần đi của cả nền kinh tế tổng thể (mẫu thức). Bằng cách làm như thế này, Bắc Kinh kéo dài được thời gian để giải quyết các khó khăn từng bước. Chỉ đến hiện nay, họ mới bắt đầu dọn dẹp khu vực tài chính và các ngân hàng tồi của họ. Mười năm sau khi hầu hết các giới chuyên môn đã từng thúc dục, và họ đang thực hiện điều ấy trong một tốc độ chậm hơn là các nhà chuyên môn mong muốn. Ngày nay, họ có thể thực hiện những cải cách như thế trong bối cảnh của một nền kinh tế đã tăng trưởng gấp đôi về kích cỡ và hết sức đa dạng. Đó là chủ nghĩa tư bản với các đặc tính của Trung quốc.

Kế hoạch tập trung về trung ương thường không hữu hiệu. Và đã thực không hữu hiệu trong một số ý nghĩa, ngay cả tại Trung quốc. Bắc Kinh có quá ít hiểu biết và sự kiểm soát được phần còn lại của Trung quốc hơn là họ muốn và những người ngoại cuộc nhận biết. Một khía cạnh có thể cho thấy được câu chuyện. Phần chia về hoá đơn thuế của chính phủ trung ương Trung quốc là vào khoảng 50 phần trăm ; con số đó của chính phủ liên bang Mỹ (một chính phủ yếu kém -dựa trên chuẩn mực quốc tế) là vào khoảng 70 phần trăm. Nói một cách khác, phát triển phân quyền hiện nay là thực tế quyết định của kinh tế và đời sống chính trị ở Trung quốc. Đến một giới hạn, sự mất khả năng kiểm soát này được nhìn thấy trước. Chính phủ đã khuyến khích sự nở rộ của thị trường tự do thực sự trong nhiều lãnh vực, mở cửa nền kinh tế cho giao thương và đầu tư ngoại quốc, và sử dụng vai trò thành viên của mình trong Tổ chức Thương mại Quốc tế để đẩy mạnh thông qua các cải cách trong kinh tế và xã hội của mình. Nhiều sự thành công (tài năng doanh thương tăng trưởng) và thất bại (chăm sóc y tế xuống dốc) của họ là kết quả của sự thiếu phối hợp giữa trung ương và các khu vực. Khó khăn này của lối tản quyền xoáy trôn ốc, sẽ là thử thách lớn nhất của Trung quốc và sẽ là chủ đề mà chúng ta sẽ quay trở lại.

Thật là phiền hà, nhưng không thể tránh được, để chỉ ra rằng „việc không phải đáp trả lại cho công chúng đã từng giúp Bắc Kinh thực hiện được chiến lược của mình. Chính phủ các nước khác nhìn theo ghi nhận với lòng ghen tỵ. Các giới chức Ấn Độ thường nhận xét rằng đối tác Trung quốc của họ không phải lo lắng gì về những người đi bầu. „Chúng tôi phải làm đủ thứ việc có tính cách chính trị phổ thông nhưng thực chất là ngu ngốc“ một viên chức cao cấp của chính phủ Ấn Độ đã phát biểu như thế. „Những lo lắng ấy đè nặng lên tiềm năng kinh tế dài hạn của chúng tôi. Nhưng về ngắn hạn thì các chính khách lại cần phiếu cử tri. Trung quốc có thể nhìn xa. và dù cho không làm đúng được mọi thứ, họ vẫn tạo được những quyết định dài hơi và khôn ngoan“. Điều này có bằng chứng trong những thúc đẩy hiện tại của Trung quốc và một nền giáo dục cao hơn. Nhận thức được đất nước cần đến một lực lượng sản xuất được đào tạo tốt hơn để có thể nâng cao giá trị kinh tế, chính phủ trung ương đã cương quyết tăng cường các học bổng và các trợ giúp khác trong năm 2008 lên đến 2.7 tỉ, so với 240 triệu của năm 2006. Các viên chức đã có kế hoạch tăng chi tiêu tổng thể năm 2006 của chính phủ đến 4 phần trăm vào năm 2010, phần lớn số tăng này sẽ dành cho một số nhỏ của các trung tâm ưu tú cạnh tranh được với toàn cầu. Một tập chú như thế sẽ là bất khả ở nền dân chủ Ấn Độ, chẳng hạn như, khi một nguồn dự trữ khổng lồ mang chi dùng trong những trợ cấp ngắn hạn để làm hài lòng cử tri. (Ngược lại, các viện giáo dục ưu tú của Ấn Độ còn bị áp lực phải giới hạn căn bản chất lượng thu nhận và phải chấp nhận một nửa số sinh viên dựa vào định mức cho phép).

Thật là một sự không bình thường cho một chính phủ phi dân chủ có thể quản lý được một sự tăng trưởng có hiệu quả như thế quá lâu. Hầu hết các chính phủ chuyên quyền đã nhanh chóng trở nên bị cô lập, lũng đoạn và ngu xuẩn – và sẽ nghiêng đến việc ăn cướp về kinh tế và đình trệ. Những kỷ lục của Macros, Mobutu và Mugabe là điển hình quá đầy đủ (và để tránh cho ai đó khỏi loay hoay với các giải thích về văn hóa, hãy nhớ rằng thành tích của chính phủ Trung quốc dưới thời Mao là một sự tàn bạo). Nhưng ngày nay ở Trung quốc, chính phủ, dù với tất cả những lỗi lầm của mình, họ vẫn duy trì được năng lực và một yếu tố mạnh mẽ của chủ nghĩa thực dụng căn bản. „Tôi đã từng làm ăn với các chính phủ trên khắp thế giới“, một viên chức cao cấp về ngân hàng đã nói „và chính phủ Trung quốc có lẽ là ấn tượng nhất“. Cái nhìn này là biểu trưng rộng rãi của giới lãnh đạo giao thương từng đến Trung quốc. „Con người cần phải… tự có được những đánh giá có giá trị về những gì mình thấy là lúc nào cũng tốt đẹp hơn“, Bill Gates đã nói với tạp chí Fortune vào năm 2007 „cá nhân tôi thấy rằng các nhà lãnh đạo Trung quốc khá là có suy nghĩ về những điều này“.

Tuy nhiên, điều này không phải là một bức tranh đầy đủ. Trong khi Trung quốc đang phát triển nhanh và các cơ hội nhan nhản trên mọi giai tầng, nhà nước – nhờ tiếp cận lối cải cách tiệm tiến – vẫn chỉ huy được rất nhiều đỉnh cao của nền kinh tế. Ngay hiện nay, các doanh nghiệp nhà nước sở hữu đã tạo được một nửa GDP. Ba mươi bốn công ty lớn nhất trên tổng số ba mươi lăm công ty trên thị trường chứng khoán là những công ty sở hữu bán phần hoặc toàn phần của nhà nước. Và sự kiểm soát của nhà nước thường xung khắc với sự rộng mở, thành thật và tính hiệu quả. Các ngân hàng Trung quốc, vốn vẫn còn là các thực thể hầu như của chính phủ, phân phối hàng chục tỉ dollar một năm để chống đỡ các công ty bệnh hoạn và đổ tuôn tiền vào các khu vực, các tập thể và người dân cho những nguyên nhân không phải vì kinh tế. Tham nhũng có vẻ đang gia tăng, và phần nhũng lạm liên quan đến các cấp cao đang tăng nhanh vô cùng, từ 1.7 phần trăm trong năm 1990 đến 6.1 phần trăm trong năm 2002[ii]. Các khác biệt khu vực cũng nở rộng, bất công tăng nhanh như pháo thăng thiên gây ra các căng thẳng về xã hội. Một con số thống kê được nhiều người viện dẫn – từ chính nhà cầm quyền – cho thấy một chiều hướng quan trọng. Vào năm 2004, có vào khoảng 74.000 cuộc biểu tình ở Trung quốc, mười năm trước chỉ có 10.000 vụ như thế.

Hai bức tranh này có thể hòa hợp được. Các khó khăn của Trung quốc trong nhiều phương diện chính là hậu quả của sự thành công. Tăng trưởng kinh tế chưa từng thấy đã mang lại những thay đổi xã hội chưa từng thấy. Trung quốc đã nén hai trăm năm kỹ nghệ hóa của Châu Âu lại thành ba mươi năm. Mỗi ngày, hàng chục ngàn người di chuyển từ làng quê đến thành thị, từ nông trại đến xưởng máy, từ đông sang tây ở một tốc độ chưa từng thấy trong lịch sử. Họ không chỉ di chuyển theo địa lý; họ bỏ lại gia đình, giai cấp và lịch sử ở đàng sau. Thật khó mà có thể ngạc nhiên rằng chính quyền Trung quốc đang đấu tranh để theo kịp với biến động của xã hội. Trong sự mô tả đến sự suy giảm năng lực của chính phủ Trung quốc, Minxin Pei đã cho thấy rằng các giới hữu trách không thể điều hành được những chuyện đơn giản như thể chuyện an toàn trên các lộ giao thông nữa: tỉ lệ tử vong là 26 phần trăm đối với mỗi 10.000 chiếc xe (so sánh với 20 phần trăm ở Ấn Độ và 8 phần trăm ở Indonesia)[iii] . Nhưng đồng thời cũng cần yếu để ghi nhận rằng con số xe hơi ở Trung quốc đã tăng 26 phần trăm một năm so với 17 phần trăm ở Ấn Độ và 6 phần trăm ở Indonesia. Khi Ấn Độ đuổi kịp phát triển của Trung quốc, như đất nước này quyết thực hiện như thế, tôi dám cuộc rằng đất nước này cũng sẽ nhìn thấy một sự gia tăng đáng chú ý trong tỉ lệ tai nạn của mình, dù là chính phủ có dân chủ hay không dân chủ.

Hãy nhìn xem các hậu quả về sinh thái vì tăng trưởng của Trung quốc – chỉ đến bản thân Trung quốc chứ chưa phải đến cả hành tinh. Vào khoảng 26 phần trăm lượng nước trong hệ thống sông ngòi lớn nhất Trung quốc bị quá ô nhiễm đến mức „mất đi khả năng về chức năng sinh thái“[iv]. Chỉ riêng hai bên bờ sông Dương Tử, có đến chín ngàn cơ xưởng hóa học. Bắc Kinh đã là thủ đô của thế giới căn cứ vào một tiêu chuẩn: nạn ô nhiễm không khí. Trong 560 triệu cư dân ở nông thôn, chỉ có 1 phần trăm hít thở được không khí được xem như sạch sẽ theo tiêu chuẩn của Liên hiệp Âu châu. Và cũng đáng để chỉ rõ rằng hầu hết các số liệu và đánh giá này là từ chính phủ Trung quốc. Bắc Kinh đã đặt vấn đề môi trường ở hàng ưu tiên hơn trong chương trình làm việc của mình so với tất cả các quốc gia đang phát triển. Các giới chức cao cấp ở Trung quốc thảo luận về nhu cầu GDP xanh và sự phát triển trong cân bằng, và các quan tâm đến môi trường được hình dung rõ ràng trong kế hoạch của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào cho một „xã hội hài hòa“. Một công ty tham vấn Tây phương đã xem xét các luật lệ mới của Trung quốc liên quan đến môi trường và đã tính được rằng các yêu cầu về sản phẩm nhằm tháo gỡ những chất phóng xạ khỏi không khí sẽ tăng 20 phần trăm một năm trong một tương lai tiên đoán được, tạo nên một thị trường trị giá 10 tỉ. Bắc Kinh đang cố gắng giải quyết một tình huống tiến thoái lưỡng nan: giảm bớt nghèo đói cần đến sức phát triển phi mã, nhưng phát triển lại có nghĩa là gây nhiều ô nhiễm và suy giảm môi trường hơn.

Vấn nạn lớn nhất mà Trung quốc đương đầu trong phát triển không phải vì chính phủ của họ là loài quỷ hết thuốc chữa. Mà chính là sự hiểm nguy từ việc chính phủ của họ sẽ mất đi cái khả năng nắm giữ tất cả lại với nhau – một vấn nạn không chỉ vây quanh mà còn vượt xa khỏi công cuộc tản quyền hoá xoáy trôn ốc. Tốc độ thay đổi của Trung quốc đang phô ra những nhược điểm của Đảng Cộng sản và chính phủ quan liêu của họ. Trong một số năm, sự độc quyền về quyền lực của chính phủ đã cho phép họ thực hiện được các cải cách vĩ đại một cách nhanh chóng. Họ có thể điều động dân chúng và tài nguyên vào những chỗ cần. Nhưng có một sản phẩm từ những quyết định của họ là sự rối loạn kinh tế, xã hội và chính trị, cơ chế thứ bậc tôn ti và cô lập của đảng khiến họ trở nên thiếu năng lực vượt qua được những con nước này. Đảng Cộng sản Trung quốc – đảng của Công nhân và Nông dân – đúng là một tổ chức ưu tú nhất trên thế giới. Tổ chức này hình thành bởi ba triệu người đàn ông và đàn bà, đa số là thành phần thành thị có học, một tập hợp hoàn toàn không đại diện đại đa số xã hội nông dân mà họ lãnh đạo. Một số nhà lãnh đạo cao cấp của họ có khả năng vận động chính trị (retail politics) thực sự. Những người được tiến cử thường là những nhà kỹ trị cũng tài giỏi trong nghệ thuật thủ đoạn nội bộ và sự đỡ đầu che chắn. Vẫn còn phải chờ xem những nhà lãnh đạo này có được cái duyên dáng hoặc khả năng để tham dự vào cuộc chính trường vĩ đại – các kỹ năng mà họ sẽ cần đến để cai trị được một dân số 1.3 tỉ người không ngừng trở nên có tính quả quyết.

(Còn tiếp)

i. Theo Jun Ma & John Norreggard, China’s Fiscal Decentralzation (International Monetary Fund, Oct. 1998

ii. Theo Minxi Pei, China’s Trapped Transition: The Limits of Development Autocracy (Cambridge: Havard University Press, 2006)Sđd

iii. Pan Yue, Thủ trưởng Cơ quan Bảo vệ Môi trường Quốc gia Trung quốc, trích dẫn theo Jamil Aderlini và Mure Dickie trong „Taking the Waters“, Financial Times, July 24, 2007

iv. Theo Joseph Kahn và Jim Yardley „As Chima Roarss, Pollution Reaches Deadly Extremes“ New York Times, Aug. 26, 2007

Hinterlasse einen Kommentar

Eingeordnet unter Dịch Thuật

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST-AMERICAN WORLD)

Kẻ thách thức

Kỳ 1

 

Người Mỹ có thể ca tụng cái đẹp nhưng thực ra họ thường bị chóa mắt bởi những gì đồ sộ. Hãy nghĩ đến Đại Vực (Grand Canyon), California redwoods, Nhà Ga Trung Tâm (Grand Central Terminal), Khu giải trí Disney (Disney World), xe SUV, Quân đội Hoa Kỳ, hãng General Electric, Double Quarter Ponder (với Cheese) và cà phê Venti Latte. Người Âu châu thích sự phức tạp, người Nhật tôn sùng sự gì cực nhỏ. Nhưng quả là người Mỹ ưa chuộng kích cỡ, họ thích cỡ cực đại.

Đấy là lý do vì sao Trung quốc đã làm người Mỹ nhức óc vô cùng. Đấy là một quốc gia đã khiến Hoa kỳ bị còi đi nhỏ lại. Với 1.3 tỉ người, đất nước này có dân số đông gấp bốn lần dân số Mỹ. Trong hơn một trăm năm, giới thương nhân và giáo sĩ Mỹ luôn mơ đến các khả năng – một tỉ linh hồn để cứu vớt, 2 tỉ cái nách hôi để mà khử mùi – nhưng họ chưa bao giờ từng đạt được các giấc mơ ấy. Trung quốc rất lớn, nhưng rất nghèo. Đất lành (The Good Earth), tác phẩm (và cũng là kịch bản, phim ảnh) bán chạy nhất của Pearl Buck, từng giới thiệu đến dung nhan lâu dài của Trung quốc: một xã hội trồng trọt với những nông dân đau khổ, các chủ đất tham lam, bệnh tật và lụt lội, các tai ương và nghèo đói.

Câu nói nổi tiếng và có lẽ đáng ngờ của Napoleon “Hãy để Trung Hoa ngủ, bởi vì khi Trung Hoa thức giấc, nàng sẽ lay chuyển cả thế giới”. Và trong hơn hai trăm năm, Trung quốc như đã theo lời hướng dẫn của ông ta, đã cứ nằm ngủ và đóng một vai trò bé nhỏ trong một vũ trường nơi các quyền lực lớn khác cứ phô diễn các tham vọng của mình. Trong thế kỷ thứ hai mươi, Nhật Bản, từng một thời là kẻ bắt chước theo Trung Hoa, đã giúp đất nước này trong chiến tranh và trong hòa bình.Trong thời Đệ Nhị thế chiến, Hoa Kỳ đồng minh với Trung Hoa và đã viện trợ cho đất nước này, và năm 1945, cho một vị trí trong Hội đồng Bảo An LHQ. Khi Bắc Kinh và Washing ton trở thành thù địch sau khi những người cộng sản chiếm đoạt vào năm 1949, Trung Quốc trượt hẳn tuốt về phía sau. Mao Trạch Đông đã kéo lê đất nước này qua một loạt những tai họa chấn động khiến hủy diệt kinh tế, khoa học và vốn trí thức. Thế rồi vào năm 1979, mọi thứ lại bắt đầu lung lay trở lại.

Sự thức giấc của Trung quốc đang tái định hình cảnh quan kinh tế chính trị, nhưng Trung quốc cũng bị định dạng bởi chính thế giới mà đất nước này đang nổi lên từ đó. Bắc Kinh đang thương thảo với cả hai sức mạnh vốn đang xác định một thế giới hậu Hoa Kỳ rộng rãi hơn – sự toàn cầu hóa và chủ nghĩa quốc gia. Một mặt, kinh tế và khoa học kỹ thuật đang đẩy Bắc Kinh đi vào sự hợp tác hội nhập vào thế giới. Nhưng những sức mạnh tương tự này đang đem lại sự chia rẽ và biến động xã hội trong đất nước và chế độ đang tìm kiếm các phương cách mới để kết hợp một xã hội không ngừng chia rẽ. Trong khi đó, sự phát triển cũng có nghĩa là Trung quốc trở nên có tính quyết đoán hơn, tỏa lên một bóng che lớn hơn trên khu vực và cả thế giới. Nền hòa bình và ổn định của thế giới Hậu Hoa Kỳ sẽ tùy thuộc phần lớn vào sự quân bình mà Trung quốc tác động giữa những lực lượng của sự hòa hợp và bất xứng.

Khi các sử gia nhìn lại những thập kỷ vừa qua của thế kỷ hai mươi, chắc họ sẽ xem năm 1979 như một nguồn nước đổ. Năm đó, Liên xô xâm lăng Afghanistan, tự đào mồ chôn vai trò siêu quyền lực mình. Và cũng năm đó, Trung quốc khởi sự cải cách kinh tế. Chỉ dấu của biến cố sau đã đến vào tháng mười hai 1978 (i) tại một cuộc họp không hẹn trước: Hội nghị toàn thể lần thứ Ba của Uỷ ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc, một dịp đặc trưng cho các bài hùng biện rỗng tuếch và tư tưởng mục nát. Trước buổi họp chính thức, tại một phiên họp đã được chuẩn bị, Đặng Tiểu Bình, nhân vật vừa được trao quyền lãnh đạo đảng, đọc một bài phát biểu vốn trở thành một bài phát biểu quan trọng nhất trong lịch sử hiện đại của Trung Quốc. Ông đã thúc dục chế độ tập chú vào phát triển kinh tế và hãy để cho thực tế – chứ không phải tư tưởng- dẫn đạo lối đi. „Mèo trắng hay mèo đen không quan trọng“ Đặng nói „miễn bắt được chuột là mèo giỏi“. Kể từ đó, Trung quốc đã thực hiện đúng như thế, theo đuổi con đường hiện đại hóa thực tiễn một cách tàn nhẫn.

Kết quả thật đáng kinh ngạc. Trung quốc đã phát triển hơn mức 9 phần trăm hàng năm trong gần ba mươi năm, tốc độ nhanh nhất đối với một nền kinh tế lớn trong lịch sử từng được ghi lại. Trong cùng thời gian ấy, Trung quốc đã đưa hơn 400 triệu dân ra khỏi tình trạng nghèo đói, một sức suy giảm chưa từng xảy ra được ở bất cứ nơi đâu vào bất cứ thời điểm nào. Thu nhập của người Trung quốc trung bình đã tăng gần bảy lần. Bất chấp các mặt hạn chế và tụt hậu, Trung quốc đã đạt được – một thay đổi dứt khoát với nghèo đói – giấc mơ của tất cả các quốc gia trong thế giới thứ ba trong một bình diện cực lớn. Nhà kinh tế Jeffrey Sachs đã diễn tả rõ ràng : „Trung quốc là câu chuyện để mà kể lại về sự phát triển thành công nhất trong lịch sử thế giới“.

Độ lớn của sự thay đổi ở Trung quốc là gần như không thể tưởng tượng được. Kích thước của nền kinh tế này đã nhân đôi mỗi tám năm trong suốt ba thập niên. Vào năm 1978, đất nước này sản xuất được 200 máy điều hòa không khí, năm 2005, sản xuất được 48 triệu. Ngày nay, mức xuất khẩu trong một ngày của Trung quốc nhiều hơn mức xuất khẩu trong cả năm 1978. Đối với những ai từng đến thăm Trung quốc trong thời gian này, sẽ có nhiều hình ảnh và minh chứng hơn về sự đổi thay mà một người nào có thể nhớ lại. Mười lăm năm trước, khi tôi đến Thượng Hải lần đầu tiên, vùng Pudong ở phía đông thành phố là một vùng quê chưa phát triển. Ngày nay đó chính là khu vực tài chính của thành phố, chật ních với những tòa nhà cao bằng kính và thép, hàng đêm sáng rực như thể những cây Giáng sinh. Khu vực này lớn gấp tám lần hơn Canary Wharf, khu tài chính mới của London và chỉ nhỏ hơn cả thành phố Chicago một chút. Trong khi đó, thành phố Trùng Khánh, bản thân là một kiểu mẫu của Chicago, vốn là thành phố phát triển nhanh nhất thế giới từ một trăm năm trước. Trùng Khánh đang tăng thêm 300 ngàn người mỗi năm, có lẽ ngày nay đã đạt được danh hiệu ấy. Và Trùng Khánh chỉ là cái đầu của một bộ sậu gồm hai mươi thành phố phát triển nhanh nhất thế giới đều thuộc về Trung quốc.

Bất chấp sự thu hút của Thượng Hải đối với người Tây phương, Bắc kinh vẫn là trung tâm của chính trị, văn hóa, nghệ thuật và ngay cả về kinh tế. Thành phố đã được tái tạo đến một giới hạn chưa từng thấy trong lịch sử (so sánh gần nhất có thể là cuộc sửa sang thành phố Paris của Haussmann trong thế kỷ thứ mười chín). Phần lớn nằm trong công cuộc chuẩn bị cho Olympics 2008, Bắc Kinh xây dựng 6 tuyến xe điện ngầm, một hệ thống đường sắt 43 km, một phi cảng mới (dĩ nhiên là lớn nhất thế giới), 25 triệu mét vuông dinh thự mới, 125 kilo mét „vùng cây xanh“ và một công viên thi đấu Olympics 12 kilo mét vuông. Khi nhìn vào kiểu mẫu của thành phố Bắc Kinh mới, không khỏi nghĩ đến kế hoạch hùng vĩ của Albert Speer cho thành phố Bá Linh sau hậu chiến, đã được vẽ lên vào những năm 1940, chính là, Albert Speer con, người con trai, cũng là một kiến trúc sư đã thiết kế đại lộ dài 8 km chạy từ Cấm thành đến công viên Olympic. Ông không hề nhìn thấy được một sự so sánh có giá trị giữa sự chuyển hóa thành phố Bắc Kinh và các thiết kế của cha mình đã thực hiện cho Hitler. Công trình này „lớn hơn“, „lớn hơn rất nhiều“, ông nói (ii).

Mọi thương nhân ngày nay đều có những con số thống kê chóa mắt về Trung quốc, những con số có thể khiến người ta phải câm lặng sững sờ. Và đó thực là những con số đầy ấn tượng – hầu hết các số liệu đó đều sẽ bị vượt qua ngay khi ai đó vừa đọc xong. Trung quốc là nhà sản xuất lớn nhất thế giới về than đá, sắt và xi măng. Đất nước này là thị trường điện thoại di động lớn nhất thế giới. Có 28 tỉ bộ vuông diện tích đang được xây dựng từ năm 2005, nhiều gấp 5 lần hơn Hoa Kỳ. Xuất khẩu của TQ sang Hoa Kỳ đã tăng 1600 phần trăm trong mười lăm năm qua. Ở đỉnh cao của cuộc cách mạng kỹ nghệ, Anh quốc đã được gọi là „công xưởng của cả thế giới“. Danh hiệu đó nay thuộc về Trung quốc. Đất nước này sản xuất 2 phần 3 số lượng máy photocopy, lò nướng viba, đầu phát DVD và giày dép của cả thế giới.

Để có được một ý niệm về việc Trung quốc đã hoàn toàn thống lĩnh nền sản xuất giá hạ như thế nào, hãy nhìn vào Wal-Mart. Wal-Mart là một trong những đại công ty lớn nhất thế giới. Doanh thu của công ty này nhiều hơn số doanh thu của Microsoft tám lần và có giá trị đến 2 phần trăm GDp của Mỹ. Công ty này thuê mướn 1.4 triệu công nhân viên, nhiều hơn tổng số công nhân viên của các công ty GM, Ford, GE và IBM gộp chung lại. Huyền thoại của họ về tính hiệu quả – có người muốn cho là tàn nhẫn – chính là nỗ lực để đưa đến cho khách hàng của mình cái giá rẻ nhất. Để đạt được như thế, công ty đã lão luyện về kỹ thuật, vận dụng đưọc sáng kiến và có lẽ, điều có hiệu quả nhất, chính là sản xuất giá thấp. Wal-Mart nhập vào khoảng 1.8 tỉ giá trị hàng hóa từ Trung quốc hàng năm. Tuyệt đại đa số nguồn nguyên liệu ngoại nhập của Wal-Mart là ở đó. Hệ thống cung cấp toàn cầu của Wal-Mart chính là đường cung cấp của Trung quốc.

Trung quốc cũng theo đuổi một chính sách đầu tư và giao thương thông thoáng đặc biệt. Đối với điều này, trong nhiều rất nguyên nhân, đất nước này không phải là một loại Nhật Bản mới. Bắc Kinh đã không hề đi theo lộ phát triển của Nhật (hay Nam Triều Tiên), nghĩa là một chiến lược dẫn đạo bởi xuất khẩu khiến đóng cửa xã hội và thị trường nội địa. (Trung quốc hành động như thế này bởi vì họ không có chọn lựa nào khác do bởi họ thiếu thốn nguồn dành dụm như của Nhật hay Nam Triều Tiên). Hiện nay, tỉ lệ giao thương đối với GDP của Trung quốc là 70 phần trăm, khiến tạo cho đất nước trở nên một trong những nền kinh tế rộng mở nhất trên thế giới. Trong mười lăm năm qua, nhập khầu từ Hoa Kỳ đã tăng gấp bảy lần. Procter & Gamble hiện kiếm được 2.5 tỉ hàng năm từ Trung Quốc, và các mặt hàng quen thuộc như dầu gội Head & Shoulders cũng như tã lót Pampers hết sức là quen thuộc với giới tiêu thụ ở đó. Starbucks tiên đoán rằng đến năm 2010 họ sẽ có nhiều tiệm cafe ở Trung quốc hơn là ở Hoa Kỳ. Trung quốc cũng mở rất rộng cửa với các thương hiệu quốc tế, dù là hàng hóa hay con người. Các kiến trúc sư nước ngoài đã từng xây dựng hầu hết các tòa nhà đẹp đẽ và các công trình phát triển lớn khiến làm nên nước Trung quốc mới. Và khi đi tìm nhân vật chỉ đạo các ngày hội khai mạc Olympics, chương trình biểu diễn của Trung quốc trước quốc tế, họ đã chọn Steven Spielberg, một người Mỹ. Thật khó có thể thuyết phục được là Nhật hay Nam Triều Tiên có thể giao cho một vai trò như thế một người ngoại quốc.

Trung quốc cũng là nước nắm giữ lượng tiền lớn nhất thế giới. Lượng tiền trao đổi ngoại tệ dự trữ của họ là 1.5 trillion, 50 phần trăm nhiều hơn lượng tiền tương tự của đất nước đứng sau đó (Nhật) và nhiều gấp ba lần lượng tiền của cả Liên hiệp Âu châu. Giữ một lượng tiền khủng khiếp như thế có thể là một chính sách khôn ngoan và có thể không, nhưng đấy chính là chỉ dấu của tính co dãn ghê gớm của Trung quốc trước bất cứ cơn chấn động hay khủng hoảng nào. Cuối cùng, chính những kết hợp này đã khiến Trung quốc trở thành độc đáo. Đấy là một đất nước lớn nhất thế giới, một nền kinh tế phát triển mạnh nhất, hãng xưởng lớn nhất, giới tiêu thụ lớn thứ nhì thế giới, người tiết kiệm nhất thế giới và (chắc chắn) đó là nước chi phí đứng hàng nhì thế giới về quân sự. Trung quốc sẽ không thay thế Hoa Kỳ như thể một siêu quyền lực của thế giới. Trung quốc gần như tự mình vượt qua mọi phương diện – quân sự, chính trị hay kinh tế – trong nhiều thập niên, không kể đến sự thống lĩnh trong tất cả các lãnh vực. Nhưng từ nội dung này đến nội dung khác, họ đã trở nên một đất nước quan trọng thứ nhì trên thế giới, đóng góp một phần tố mới tinh nguyên vào hệ thống quốc tế.

(Còn tiếp)

_______________________

i. Theo Robyn Meredith, The Elephant and the Dragon: The rise of India and China and What it means for All of Us (New York: W.W. Norton & Company, 2007) tr. 16

ii. Theo Melinda Liu, “Beijing Reborn”, Newsweek International, Aug. 13, 2007

 

Fareed Zakaria

Hinterlasse einen Kommentar

Eingeordnet unter Dịch Thuật

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST-AMERICAN WORLD)

Một Thế Giới Phi Tây Phương – Kỳ 5

Âm thanh nghe trẻ trung và hiện đại hiện nay là Anh ngữ. Không một ngôn ngữ nào từng lan quá rộng quá sâu trên thế giới như thế. So sánh gần nhất là tiếng Latin trong thời Trung Cổ, nhưng đấy là một so sánh nghèo nàn. Tiếng Latin đã được sử dụng bởi một giới ưu tú nhỏ hẹp vào thời điểm mù chữ tràn lan, và hầu hết các quốc gia phi-Tây phương chẳng phải là một bộ phận của thế giới Kitô giáo. Ngày nay, hầu như một phần tư dân số hành tinh, 1,5 tỉ người, có thể nói đôi chút tiếng Anh. Và mức phát triển lan rộng của Anh ngữ tăng nhanh ở khắp mọi nơi, từ Âu châu, qua Á Châu đến châu Mỹ Latin. Toàn cầu hoá, vốn mang đến nhiều tiếp xúc và thương mại, tạo nên một khích lệ cho các phương cách giao tiếp. Càng đông người sử dụng, càng cần đến một chuẩn mực chung. Khoảng 80 phần trăm các thông tin điện tử lưu trữ trên thế giới là bằng Anh ngữ. Khi các nhà ngoại giao từ hai mươi lăm quốc gia của Liên Hiệp Âu châu gặp nhau để bàn luận về thương mại ở Brussels, họ có hàng trăm người thông dịch. Nhưng hầu hết đều nói tiếng Anh.

Phải chăng một ngôn ngữ chung sẽ khiến người ta nghĩ cùng một cách? Chắc chắn chúng ta không bao giờ biết được. Tuy thế, trải qua thế kỷ vừa rồi Anh ngữ đã trở nên một ngôn ngữ của nền hiện đại. Từ ngữ diễn tả chiếc xe tăng trong tiếng Nga là “tank”. Khi người Ấn Ðộ nói tiếng Hindi muốn nói về nuclear họ thường nói “nuclear”. Trong tiếng Pháp, ngày cuối tuần là “le weekend” . Trong tiếng Tây Ban Nha, internet là “internet”. Và không ngừng phát triển, cái Anh ngữ mà người ta nói đã bị Mỹ hóa, với một số đặc tính. Đó là tính thông tục, cẩu thả và thiếu lễ độ. Có lẽ sự thiếu lễ độ ấy sẽ đổ tràn lên các lãnh vực khác.

Dĩ nhiên, những khả năng ấy làm người lớn tuổi lo lắng. Hầu hết các xã hội mới hiện đại hóa đều muốn phối hợp nền thịnh vượng mới của mình với các phần tử của trật tự cũ, “Chúng tôi bỏ quá khứ lại đàng sau”, Lý Quang Diệu đã nói với tôi về quốc gia của ông “và có một sự không dễ dàng nằm bên trong rằng sẽ không còn điều gì của chúng tôi thuộc về cái cũ nữa cả”. Nhưng ngay nỗi lo lắng này cũng quen thuộc trong kinh ngiệm của phương Tây. Khi các nhà lãnh đạo Á châu ngày nay nói lên nhu cầu cần phải gìn giữ những giá trị Á châu, họ cũng giống như những người Tây phương bảo thủ từng tìm cách gìn giữ những giá trị tương tự trong hàng bao thế kỷ. Thi hào Oliver Goldsmith đã viết vào năm 1770 “Của cải chất đống thì con người mục rữa” khi nước Anh ở trong thời kỳ kỹ nghệ hóa. Có lẽ Trung Quốc và Ấn Ðộ sẽ trải qua thời đại Victoria của chính họ, một thời đại khi chủ nghĩa tư bản năng động đi song song với chủ nghĩa bảo thủ xã hội. Và có lẽ kết hợp ấy sẽ tồn tại. Tóm lại, sức quyền rũ của các giá trị cổ truyền và gia đình vẫn còn mạnh mẽ trong một số quốc gia rất hiện đại – Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nam Triều Tiên. Nhưng nói chung, và qua thời gian, trở nên giàu có và cơ hội nhận thức có mang lại một chuyển biến xã hội. Nền hiện đại hóa mang lại một số hình thức của cuộc giải phóng phụ nữ. Nó lật ngược thứ tự của thời đại, tôn giáo, truyền thống và trật tư phong kiến. Tất cả những điều này tạo cho xã hội càng giống những xã hội ở Âu châu và Bắc Mỹ nhiều hơn.

Một Tương lai Pha trộn

Khi suy nghĩ về thế giới sẽ như thế nào khi các thành phần còn lại vươn lên và Tây phương xế tàn đi, tôi luôn luôn phải nhắc đến một bộ phim Ấn Ðộ nổi tiếng, Shakespear Wallah, được thực hiện vào năm 1965. Bộ phim trình chiếu cảnh một đoàn kịch sĩ lưu diễn kiểu Shakespear ở Ấn Ðộ thời hậu thuộc địa để thử sức với một thực tại buồn bã, lạ lẫm. Rất nhiều trường học, hội đoàn, rạp hát từng la hò phản đối trình diễn của họ đã nhanh chóng bị mất chú ý. Các ngài Ăng Lê đã hết thời rồi, và chả còn ai để mà cảm kích với các thích thú của những lời châm chích. Kết quả là, niềm đam mê Shakespear, thực đã có liên quan đến sự cai trị của người Anh ở Ấn Ðộ. Văn hóa theo sau quyền lực.

Cái gì sẽ thay thế những ban nhạc kịch hát rong này? Chính là phim ảnh. Nói cách khác, một phần của câu chuyện Shakespear Wallah này chính là sự nổi dậy của một nền văn hóa đám đông. Bollywood – nền văn hóa quần chúng bản xứ của Ấn Ðộ – là một nền văn hóa lai tạp. Bởi vì đấy là một phần của văn hóa đám đông, vay mượn từ Hoa Kỳ, nền văn hóa hàng đầu (hoặc là cái nôi) của thế giới. Nhiều phim của Bollywood là sự tái tạo nghèo nàn các tác phẩm kinh điển của Mỹ, với sáu đến mười bài hát thêm vào đấy. Nhưng họ vẫn giữ cái cốt lõi của Ấn Ðộ. Các chuyện phim thì thường là đầy những người mẹ hy sinh, gia đình cãi lộn, các chia rẽ định mệnh và các mê tín dị đoan. Đông phương và Tây phương pha trộn.

Thế giới mà chúng ta đang đến sẽ giống như là Bollywood vậy. Thế giới này sẽ hoàn toàn hiện đại – và dù đã được định dạng mạnh mẽ theo lối Tây phương – nhưng vẫn giữ được những phần tử quan trọng của nền văn hóa địa phương. Nhạc rock Trung Quốc nghe tương tự như nhạc rock Âu châu, với các nhạc cụ và tiết tấu tương tự, nhưng nhạc đề, lời nhạc và giọng hát thì rất Trung Quốc. Các điệu múa Ba Tây phối hợp với Phi châu, Latin và các chuyển động hiện đại nói chung (nghĩa là Phương Tây).

Ngày nay, con người chung quanh thế giới đang trở nên ngày càng thoải mái, thích nghi hơn trong việc đặt các dấu ấn bản xứ của mình lên hiện đại tính. Khi tôi lớn lên ở Ấn Ðộ, hiện đại là ở phương Tây. Chúng tôi đều biết rằng tất cả những điều xuất sắc, từ khoa học đến thiết kế đều được hình thành từ đó. Điều này không còn đúng nữa. Một nhà kiến trúc nổi tiếng đã giải thích cho tôi biết rằng, khi ông lớn lên, ông biết rằng các tòa nhà lớn, đẹp và tiến bộ nhất chỉ xây ở châu Âu và châu Mỹ thôi. Ngày nay, từ văn phòng làm việc của mình nhà kiến trúc sư trẻ tuổi này nhìn thấy các toà nhà vĩ đại đang được xây lên mỗi ngày ở Trung Quốc, Nhật Bản, vùng Trung Ðông và châu Mỹ Latin. Các thế hệ trẻ hơn của ngày hôm nay có thể ở trong nhà mình mà sáng tạo và tiếp cận phiên bản hiện đại của chính mình – tiến bộ ngang hàng với mọi thứ ở phương Tây – nhưng trông quen thuộc hơn.

Hiện đại và bản địa đang phát triển bên nhau với toàn cầu hóa và phương Tây. Nhạc rock Trung Quốc bán chạy hơn nhạc rock Âu châu. Điệu samba đang phát triển rộng rãi ở châu Mỹ Latin. Kỹ nghệ phim ảnh địa phương nở rộ ở mọi nơi, từ châu Mỹ Latin đến miền Đông Á, Trung Ðông đang phát triển mạnh mẽ – ngay cả còn tạo được các phần chia bản xứ của họ đối với các nhập khẩu của Hollywood. Truyền hình Nhật Bản, vốn từng thường mua lại rất nhiều các chương trình Mỹ, hiện nay chỉ còn lại chừng 5 phần trăm chương trình phát hình có gốc từ Hoa Kỳ (19). Nước Pháp và Đại Hàn, bị thống lĩnh lâu năm bởi phim ảnh Mỹ hiện nay có những kỹ nghệ phim ảnh riêng của họ. Nền nghệ thuật hiện đại địa phương, thường là một pha trộn lạ lùng giữa phong cách trừu tượng Tây phương và chủ đề nghệ thuật dân gian, đang nở rộ khắp nơi trên thế giới. Quý vị có thể dễ bị nhầm lẫn khi nhìn vào những bảng hiệu Starbucks và Coca Cola quanh thế giới. Ảnh hưởng trực tiếp của nền toàn cầu hóa đã là sự nở hoa của hiện đại và địa phương.

Nhìn gần hơn vào quyền bá chủ của Anh ngữ, trong khi rất nhiều người đang nói tiếng Anh, phát triển mạnh nhất trên truyền hình, phát thanh và Internet là những ngôn ngữ địa phương. Ở Ấn Ðộ, người ta đã tưởng rằng mở ra một làn sóng phát thanh mới sẽ chỉ dẫn đến một sự phát triển trong lãnh vực riêng tư, tất cả các đài phát tin tức bằng Anh ngữ, loại ngôn ngữ được giới thông thạo sử dụng. Nhưng sự bùng phát lớn hơn – mạnh đến ba, bốn lần hơn – đã là những chương trình phát thanh bằng ngôn ngữ địa phương. Tiếng Ấn, Tamil, Telugu, Guajarati và Marathi đều được sử dụng rất nhiều trong thế giới toàn cầu hóa này. Tiếng Phổ thông đang tăng trưởng mạnh trên các trang web. Tiếng Tây Ban Nha đang thắng thế trong nhiều quốc gia kể cả ở Hoa Kỳ. Trong giai đoạn đầu của nền toàn cầu hóa, ai cũng xem CNN. Trong giai đoạn thứ nhì, người ta xem thêm BBC và Sky News. Hiện nay mỗi quốc gia đều tự sản xuất ra chương trình CNN của riêng mình – từ Al Jazeera và Al Arabia đến NDTV và Aaj Tak của Tân Đề Li.

Những kênh tin tức này là một phần của chiều hướng rất mạnh – sự phát triển của loại tường thuật mới. Khi tôi lớn lên ở Ấn Độ, các tin tức đang xảy ra, đặc biệt là các tin tức thế giới, được xác định qua một lăng kính Tây phương. Ta nhìn thế giới qua cặp mắt của đài BBC và Đài tiếng nói Hoa Kỳ (VOA). Ta hiểu được các thông tin này qua các tạp chí Time, Newsweek, International Herald Tribune và tờ Times của London (trong những ngày xưa cũ hơn). Hiện nay, có nhiều kênh tin tức quan trọng hơn, trình bày nhiều quan điểm khác nhau hơn về thế giới. Dĩ nhiên là nếu quý bạn xem Al Jazeera, bạn sẽ nhận được quan điểm đối chọi giữa Arab và Israel không giống như quan điểm ở Tây phương. Nhưng không phải là chỉ có Al Jazeera. Nếu quý bạn xem hệ thống thông tin Ấn Ðộ, bạn sẽ có một quan điểm rất khác về cuộc tìm kiếm sức mạnh hạch nhân của Iran. Do đó, nơi chốn ảnh hưởng đến cái nhìn của mình về thế giới chung quanh.

Có phải những khác biệt này đã khiến các „nước còn lại“ hành động khác nhau trong giao thương, cai trị hoặc trong chính sách đối ngoại? Đó là một vấn đề phức tạp. Trong thế giới giao thương, cái gì quan trọng là cái tận cùng. Nhưng làm thế nào người ta đến được vị trí ấy thật là khác biệt vô cùng, ngay cả trong nội bộ thế giới Tây phương. Cấu trúc của một hành vi kinh tế ở Italy rất khác với cấu trúc ở Anh Quốc. Nền kinh tế Hoa Kỳ rất khác với nền kinh tế của Pháp. Cách làm ăn của người Nhật Bản rất khác với người Trung Quốc hay Ấn Ðộ. Và những khác biệt này sẽ nhân tích luỹ lên lẫn nhau.

Tương tự như ở trong một số phương cách đúng đắn về chính sách đối ngoại. Có một số thực tế có tính căn bản. Các vấn đề cơ bản về an ninh và ảnh hưởng đến nước láng giềng trực tiếp là những thành phần quan yếu của một chính sách an ninh quốc gia. Nhưng ngoài phạm vi ấy còn có những phân biệt thực sự, mặc dù những điều này có thể hoặc không hề dính dáng gì đến văn hóa. Hãy thử xem xét về nhân quyền, một vấn đề mà những nước phi-Tây phương nói chung và Trung Hoa, Ấn Ðộ đặc biệt muốn giữ những quan điểm rất khác với Hoa Kỳ. Có một số nguyên nhân căn bản cho sự việc này. Trước tiên, các nước này tự xem mình như những quốc gia đang phát triển, do đó, còn quá nghèo để mà quan tâm đến các vấn đề của trật tự toàn cầu, đặc biệt trong những vấn đề có can dự đến thúc đẩy các chuẩn mực và các quyền ở ngoài nước. Thứ đến, họ không phải là những người Thệ Phản giáo (Protestan), không được hội nhập vào quyền lực, do đó họ không có nhiều ham muốn trong việc phát tán những giá trị phổ quát ra khắp thế giới. Những người theo Khổng giáo cũng như những người theo Ấn Ðộ giáo cũng đều không tin vào những điều răn phổ biến hay nhu cầu reo rắc đức tin. Do đó, từ những nguyên nhân có tính văn hóa và thực tiễn, cả hai quốc gia này gần như không quan niệm các vấn đề nhân quyền như trọng tâm đối với chính sách đối ngoại của họ.

Dĩ nhiên, không có nền văn minh nào phát triển được trong một cái hộp niêm kín. Ngay cả khi nói đến tôn giáo và một thế giới quan căn bản, các quốc gia đều có các bối cảnh pha trộn, với các yếu tố địa phương đè chồng lên những ảnh hưởng ngoại lai. Thí dụ như Ấn Ðộ, là một quốc gia Ấn Ðộ giáo từng bị thống trị trong bốn trăm năm bởi các đế chế Hồi giáo, và rồi bởi một thế lực Phản Thệ giáo. Trung Quốc không trải qua kinh nghiệm bị ngoại quốc cai trị, nhưng quá khứ Khổng học của họ đã bị tước bỏ một cách tàn bạo và bị bao phủ bởi tư tưởng Cộng sản chủ nghĩa trong bốn mươi năm. Nhật Bản đã từng lựa chọn đi theo các phong cách và tinh thần Hoa Kỳ trong thế kỷ qua. Phi châu có truyền thống lâu dài của riêng mình nhưng cũng là nơi trú ngụ của một dân số đạo Kitô lớn nhất và không ngừng tăng trưởng trên địa cầu. Ở châu Mỹ Latin, các hệ thống nhà thờ vẫn còn là sự sống còn cho đời sống của đất nước trong một phương cách không thể tưởng tượng được ở Âu châu. Chúng ta thường nghe rất nhiều về giới giáo sĩ truyền đạo ở Hoa Kỳ, nhưng thực ra chính là ở Ba Tây và Nam Hàn mới là nơi mà thành phần này phát triển nhất. Nếu tin các giá trị của Kitô giáo ở trọng tâm của truyền thống Âu châu thì làm sao có thể mô tả được đặc điểm của đất nước như Nam Phi, nơi có hơn bảy ngàn giáo phái Kitô? Hay ở Nigeria, nơi có nhiều người theo Anh giáo hơn ở Anh Quốc?

Phương Tây và các nước còn lại đã ảnh hưởng lẫn nhau trong cả thiên kỷ. Truyền thuyết đã nói rằng Kitô giáo từng đến Phi châu với Thánh Mark từ năm 60 AD. Một số cộng đồng Kitô hữu xưa cũ nhất từng sinh sống ở bắc Phi. Vùng Trung Ðông đã bảo quản và làm tiến triển khoa học phương Tây trong nhiều niên kỷ. Nga từng đấu tranh với bản sắc Tây phương và phi Tây phương của mình trong ít nhất là bốn trăm năm. Trong đa phần của thế giới, phương Tây đã tồn tại quá lâu đến nỗi phương Tây là trở thành một số thành phần có ý nghĩa của tấm thảm văn minh ấy. Đó là lý do vì sao thật là hoàn toàn tự nhiên khi sòng bài lớn nhất thế giới được xây ở Macao, Trung Quốc – và nó là một bản sao của quảng trường Thánh Mark ở Venice, trong khi bản thân kiến trúc này lại ảnh hưởng mạnh mẽ bởi lối kiến trúc Moorish (Hồi giáo). Vậy nó là Trung Quốc, Tây phương Moorish hay hiện đại? Chắc nó chẳng phải là tất cả những kiểu cách ấy.

Hiện đại tính đã đến với sự vươn dậy của phương Tây, do đó nó mang một khuôn mặt Tây phương. Nhưng khi thế giới hiện đại phát triển và bao gồm nhiều trên toàn cầu, hiện đại tính trở nên một hỗn hợp chung. Thương mại, du lịch, chủ nghĩa đế quốc, di dân và các công tác truyền đạo đã trộn lẫn tất cả mọi thứ. Các nền văn hóa vẫn có các phần tử riêng của mình và một số phần tử tồn tại trong nền hiện đại hóa. Một số khác mất đi, và khi chủ nghĩa đế quốc tiến bước, các trật tự phong kiến, hình thức, gia đình trị, và tôn ti trật tự cũ hơn chết đi – như đã từng chết đi ở Tây phương. Tác động của hiện đại, các giá trị phương Tây tiếp tục trở nên mạnh mẽ. Trung Quốc và Ấn Ðộ có thể không nghiêng về sự hành xử về các vấn đề nhân quyền nhưng họ phải đáp ứng với những thực tế của vấn đề này trong chương trình làm việc với toàn cầu. Trong trường hợp của Ấn Ðộ, là một nền dân chủ với một giới ưu tú trí thức phóng khoáng, có một lớp cử tri lớn tiếng trong nội bộ quốc gia này vốn có quan điểm đã được định hình rõ ràng bởi các giá trị Tây phương.

Câu hỏi „Phải chăng tương lai sẽ là nền hiện đại thay vì Tây phương?“ thực ra phức tạp hơn là ta tưởng. Câu trả lời giản đơn duy nhất chính là „phải“, tương lai sẽ là nền hiện đại. Câu trả lời phức tạp duy nhất sẽ là nhìn vào các quốc gia đặc biệt – để hiểu được quá khứ, hiện tại văn hóa và phong tục của họ cùng phương cách mà họ đã áp dụng vào thế giới phương Tây và hiện đại hóa. Tôi sẽ cố gắng làm như vậy tiếp theo đây đối với hai quyền lực mạnh nhất đang lên – Trung Quốc và Ấn Ðộ. Đây cũng là phương cách tốt nhất để hiểu được nền địa lý chính trị mới. Sau cùng, thử thách thực sự mà chúng ta đối diện trong tương lai không mơ hồ về những tính cách khác nhau mà là một sự vững chãi của khác biệt địa dư, lịch sử, quyền lợi và các năng lực. Nói về „sự nổi dậy của Á châu“ là mất trọng tâm. Không hề có cái gọi là Á châu vốn như là một xếp đặt của Tây phương. Có rất nhiều đất nước là một phần của xếp đặt ấy – Trung Quốc, Ấn Ðộ, Nhật Bản, Nam Dương – và họ chứa đựng những khác biệt và nghi hoặc lẫn nhau. Thế giới nhìn Trung Quốc và Ấn Ðộ khác không phải chỉ vì thế giới là ai mà cũng bởi vì thế giới ấy đứng ở đâu. Sự chuyển đổi lớn lao đang xảy ra trên thế giới sẽ chứng tỏ những điều ít hơn về văn hóa và nhiều hơn về quyền lực.

19. Theo Diana Crane, “Culture and Globalization:Theoretical Models and Emerging Trends” trong Global Cultures:
Media, Arts, Policy, and Globalization, ed. Diana Crane, Nobuko Kawashisma và Kenichi Kawasaki
(London:Routledge, 2002)

 

Hinterlasse einen Kommentar

Eingeordnet unter Dịch Thuật

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST-AMERICAN WORLD)

Một Thế Giới Phi Tây Phương
Kỳ 4

Hiện đại hóa

Vấn đề mà những người cải cách không-Tây phương đã phải đấu tranh trong thế kỷ thứ hai mươi đã từng quay trở lại như một câu hỏi trọng tâm cho tương lai: Chúng ta có thể trở nên hiện đại mà không trở thành Tây phương? Hai điều này khác nhau ra sao? Phải chăng một đời sống quốc tế sẽ là hoàn toàn khác biệt trong một thế giới mà quyền lực của những người không-Tây phương sẽ có những giá trị khác hơn? Hay là phải chăng tiến trình trở nên giàu có sẽ biến tất cả chúng ta trở nên giống nhau? Đây không phải là những suy nghĩ vu vơ. Trong một vài thập kỷ tới, ba trong bốn nền kinh tế lớn nhất thế giới sẽ là những nền kinh tế phi-Tây phương (Nhật Bản, Trung Quốc và Ấn Độ). Và Hoa Kỳ, nền kinh tế lớn thứ tư sẽ không ngừng bị định dạng bởi các dân số không phải người Âu châu.

Samuel P. Huntington, người nổi tiếng nhất trong số học giả đương đại, đã lập luận rằng hiện đại hóa và Tây phương hóa hoàn toàn khác biệt. Huntington đã lập luận rằng, Tây phương, đã là Tây phương trước khi họ trở nên hiện đại. Tây phương đã có được những đặc tính riêng biệt vào thế kỷ thứ tám hoặc thứ chín nhưng đã chỉ trở nên „hiện đại“ vào khoảng thế kỷ mười tám. Trở nên một xã hội hiện đại là trở nên kỹ nghệ hóa, thành thị hóa và trình độ học thức cao cùng giáo dục và sự thịnh vượng. Ngược lại, những phẩm chất khiến tạo nên một xã hội Tây phương thì đặc biệt: di sản cổ điển, Ki tô giáo, sự tách bạch giữa nhà nước và giáo hội, luật pháp, xã hội dân sự. „Nền văn minh Tây phương“, Huntington viết rằng „quý giá không phải vì nó phổ quát mà chính là vì sự độc đáo của nó“ (14).

Trộn thêm vào những lập luận trí thức này sự kỳ lạ trong nội tình của những khu vực phi-Tây phương – cái thực tế mà chúng ta nhìn thấy, cảm nhận và nghe được thì thật là quá khác biệt. Người Nhật đã mang đến một minh hoạ phổ biến nhất về điểm này. Nhật là một quốc gia hiện đại cao. Trong các phạm trù về công nghệ – xe lửa cao tốc, điện thoại di động, ngành robot tự động – họ tài giỏi hơn tất cả các nước phương Tây khác. Nhưng đối với người ngoại quốc, đặc biệt là đối với các du khách Tây phương, nước Nhật vẫn là một sự lạ lùng và không nhập vào được. Nếu sự giàu có không làm Nhật bị Tây phương hóa thì các nước còn lại cũng chẳng bị Tây phương hóa. Trong một thế giới có người Ấn, người Trung Quốc và người Ba Tây đang trở nên giàu có hơn và tự tin hơn sẽ là một thế giới đa dạng về văn hóa, vĩ đại và đẹp lộng lẫy.

Tuy vậy, Tây phương đã hiện diện quá lâu và đã lan tràn quá xa thành ra không rõ là khoảng hở khác biệt giữa hiện đại hóa và Tây phương hóa có nghĩa như thế nào. Chúng ta đã suy nghĩ quá nhiều, tối thiểu là từ những gì mình thấy được, rằng hiện đại nghĩa là Tây phương. Các hình thức hiện tại của nhà nước, thương mại, giải trí, thể thao, các chuyến nghỉ hè và những ngày nghỉ lễ tất cả đều bắt nguồn từ những tập quán và lối sống Âu châu. Lễ Giáng sinh đã được chào đón ở nhiều nơi trên thế giới hơn bao giờ – ngay cả khi lễ Giáng sinh không có ý nghĩa gì nhiều hơn ngoài rượu champagne, đèn đuốc trang hoàng và quà cáp tặng nhau (ngay cả bản thân rượu champagne cũng là một sáng tạo phát minh của Tây phương). Ngày lễ tình yêu (Valentine day) cũng đã được đặt tên nhằm vinh danh một vị thánh của đạo Kitô rồi được thương mại hóa bởi những công ty kinh doanh thiệp mừng, cũng đang trở nên một truyền thống phấn kích ở Ấn Ðộ. Quần jean từng được tạo nên để phù hợp cho những người thợ mỏ vàng thô kệch ở California giờ đây cũng trở nên phổ biến khắp nơi cả từ Ghana, Indonedia đến San Francisco. Thật khó có thể hình dung một thế giới hiện đại sẽ ra sao nếu không có các tác động của Tây phương.

Một nhà ngoại giao Singapore trí thức và sâu sắc, ông Kishore Mahbubani, gần đây đã tiên đoán rằng, trong nền trật tự thế giới mới nổi, các sức mạnh phi-Tây phương sẽ vẫn duy trì các phương cách khác biệt của mình ngay cả khi họ trở nên giàu có thịnh vượng hơn. Vào năm 2006, ông đã lập luận rằng, ở Ấn Ðộ số phụ nữ mặc sari (loại váy cổ truyền của Ấn) thực có tăng lên (15). Nhưng thực tế, trong khi Mahbubani tuyên bố sự gia tăng sử dụng của váy sari, báo chí Ấn Ðộ lại tường thuật một hiện tượng hoàn toàn trái hẳn. Trải qua thập kỷ vừa rồi, phụ nữ Ấn đã bỏ chiếc váy sari qua một bên để thay thế bằng những trang phục tiện ích hơn. Ngành kỹ nghệ dệt váy sari tỉ mỉ công phu, với loại vải khác biệt của mình cùng các sớ dệt, kiểu cách đã đi xuống ngay cả khi Ấn Ðộ đang ở vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ. (Vì sao thế? Cứ hỏi một bậc nữ chuyên viên Ấn xem cô ta có thấy việc quấn mình trong sáu đến chín thước vải, thường cứng nhắc, rồi xếp, gấp cẩn thận là một điều phiền phức quá không?). Phụ nữ Ấn Ðộ ngày nay không ngừng ưa chuộng một loại thời trang pha trộn cả bản sắc địa phương và kiểu dáng quốc tế. Chẳng hạn như, loại váy Ấn salwar kurta (một loại kết hợp nửa váy nửa quần, rộng rãi). Váy sari đã được để dành cho những dịp lễ lạc đặc biệt, tựa như loại áo kimono ở bên Nhật vậy.

Nhận xét này có vẻ nông cạn nhưng kỳ thực không phải vậy. Xiêm áo đàn bà là một chỉ hướng rất rõ ràng cho sự thích ứng của một xã hội với tính hiện đại. Chẳng ngạc nhiên gì mà các nước Hồi giáo có những vấn nạn rất lớn đối với giới phụ nữ của mình ăn mặc theo lối phương Tây. Đó cũng là khu vực mà phụ nữ vẫn còn ở rất xa đàng sau bất cứ tiêu chuẩn so sánh khách quan nào – khả năng đọc viết, giáo dục, hội nhập vào lực lượng lao động. Mạng che mặt và áo choàng chador phủ kín có thể là lựa chọn tốt nhất cho xiêm áo, nhưng nó cũng trùng khớp với một loại bề ngoài chối từ thế giới hiện đại trong một số phương diện khác.

Đối với nam giới, phục trang kiểu Tây phương lan tràn khắp nơi. Ngay từ khi quân đội bắt đầu ăn mặc theo lối đồng phục kiểu Âu Tây, nam giới quanh thế giới cũng bắt chước ăn mặc theo lối Âu tây trong các nơi làm việc. Kỹ nghệ may suit, hậu thân của bộ quân phục sĩ quan Âu châu giờ là tiêu chuẩn của nam giới từ Nhật Bản đến Nam Phi và Peru – với những kẻ lạc hậu (hay chống đối) đã từng có một lúc ở các nước Ả Rập. Người Nhật, với tất cả những khác biệt về văn hóa của mình, tiến một bước xa hơn vào những dịp đặc biệt (thí dụ như khi tuyên thệ nhậm chức trong chính phủ) để mặc tuxedo và quần có sọc, kiểu dành cho các nhà ngoại giao thời vua Edward ở bên Anh cả trăm năm trước đây. Ở Ấn Ðộ, việc mặc y phục cổ truyền từ lâu đã gắn liền với biểu hiện lòng yêu nước; Gandhi vẫn duy trì ăn mặc như thế, như một sự chống lại với thuế quan và kỹ nghệ hàng vải Anh Quốc. Ngày nay loại suit kiểu Âu châu đã trở nên lối ăn mặc tiêu chuẩn của thương nhân Ấn, ngay cả với các viên chức chính phủ trẻ tuổi, nói lên một thời đại hậu thuộc địa ở Ấn Ðộ. Dĩ nhiên, ở Hoa Kỳ, nhiều thương nhân trong các ngành kỹ nghệ mới, đã thải luôn tất cả các loại ăn mặc nghiêm chỉnh để theo lối mặc Jean và T shirt. Điều này cũng đã được bắt chước ở một số nước khác, đặc biệt là với giới trẻ trong các ngành kỹ nghệ căn bản công nghệ. Mô hình vẫn là như vậy. Kiểu cách Âu châu đã trở thành phong cách chuẩn mực của trang phục làm việc cho nam giới, báo hiệu cho hiện đại tính.

Cái chết của nền Trật tự cũ

Tây phương hóa không chỉ có nghĩa là ở bề ngoài. Các nhà giám đốc điều hành trên khắp thế giới đã vận hành công ty của mình bằng những phương thức mà chúng ta thường gọi là các „chuẩn mực“ của hoạt động thương mại. Sự thật là, những chuẩn mực này, từ loại sổ sách nhập đôi đến việc chia lời cổ đông, đều tất cả bắt nguồn từ phương Tây. Và điều này cũng không phải chỉ đúng đối với công việc doanh thương. Trải qua hai thế kỷ, đặc biệt là hai thập niên vừa qua, các tổ chức chính phủ ở mọi nơi cũng trở thành giống nhau, hoàn thiện quốc hội, sắp xếp các ban ngành và các ngân hàng trung ương. Khảo sát một số quốc gia ở Âu châu và châu Mỹ Latin, hai học giả đã nhận thấy con số các ban ngành được cho phép độc lập (loại tổ chức kiểu Hoa Kỳ) đã tăng gấp bảy lần từ năm 1986 đến 2002 (16). Ngay cả chính trị cũng được cảm nhận quen thuộc chung quanh địa cầu. Các nhà tham vấn Hoa Kỳ đang được trả công như những ông hoàng để bảo cho các nhà chính khách ở Á châu và châu Mỹ Latin biết làm cách nào để lôi cuốn dân của họ tốt nhất.

Sách vở, phim ảnh và các chương trình truyền hình có thị hiếu địa phương khác nhau, nhưng cấu trúc của những kỹ nghệ này (cũng như đa số các khía cạnh của nội dung) đang trở nên chuẩn mực hóa hơn. Thí dụ như Bollywood, đang rời bỏ truyền thống ngân sách rẻ tiền và thời lượng trình chiếu dài ngoằng của họ, đến những bộ phim gọn hơn, thương mại hơn với những nhà đầu tư Hollywood và có tiềm năng xuất khẩu hơn (17). Cứ bước xuống phố ở bất cứ nơi đâu trong thế giới kỹ nghệ hóa ngay nay, quý vị sẽ nhìn thấy các biến hóa của cùng một chủ đề – các máy trả tiền tự động, các quán cà phê, cửa tiệm quần áo với các mặt hàng thời vụ của họ, các cộng đồng di dân, văn hóa phổ thông và âm nhạc.

Cái biến mất khỏi những quốc gia đang phát triển là những văn hóa xưa cũ và các trật tự truyền thống. Những thứ này đã bị mài mòn bởi sự xuất hiện của quần chúng đa số, được trang bị sức mạnh của chủ nghĩa tư bản và nền dân chủ. Những điều này thường có quan hệ với công cuộc Tây phương hóa bởi vì những gì thay thế cái cũ – nền văn hóa thống trị mới – nhìn giống Tây phương và đặc biệt giống Mỹ. Cửa hàng McDonald, quần bò và nhạc rock đã trở nên phổ biến chèn ép hẳn nhũng cung cách cũ, khác biệt trong ẩm thực, ăn mặc và ca hát. Nhưng câu chuyện ở đây là về sự phục vụ cho một đám đông quần chúng hơn là thiểu số thành phần ưu tú vốn thường minh định nên các tập tục của một đất nước. Tất cả đều giống như Mỹ bởi vì Mỹ, quốc gia đã tạo nên chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa tiêu thụ đám đông đến trước. Tác động của chủ nghĩa tư bản đám đông hiện nay là phổ biến. Người Pháp đã từng dèm pha chỉ trích về sự đánh mất văn hóa của họ trong nhiều thế kỷ, trong khi, thực ra tất cả mọi thứ xảy ra chính là sự suy tàn của một số trật tự tôn ti cũ. Phải chăng đa số người Pháp, hầu hết là những người dân quê nghèo khó, đã được ăn ở những nhà hàng thực sự – hay ở bất cứ nơi nào khác ngoài chính gia đình họ – vào thế kỷ mười chín? Người ta bảo rằng tuồng cổ của Trung Quốc đang chết đi. Nhưng đó có phải là vì công cuộc Tây phương hóa hay bởi vì sự nổi lên của văn hóa đại chúng ở Trung Quốc? Bao nhiêu người Trung Quốc dân dã được nghe tuồng cổ trong làng mình nhiều thập niên trước đây? Nền văn hóa đại chúng đã trở nên một nền văn hóa quan trọng bậc nhất bởi vì trong thời đại dân chủ, số lượng bao trùm chất lượng. Bao nhiêu người nghe quan trọng hơn là ai nghe?

Hãy xem những thay đổi ở một trong những nơi có tính truyền thống nhất thế giới. Năm 2004, Christian Caryl, một thông tín viên nước ngoài của tờ Newsweek chuyển đến Tokyo, sau khi đã trải qua một thập niên ở Moscow và Berlin. Anh nghĩ rằng mình sẽ tìm được một đất nước đẹp đẽ, sâu sắc, ít ai biết. “Thế mà cái tôi đã từng gặp” anh viết, “là một đất nước kiểu Tây phương khác hiện đại thịnh vượng nhất với một số kiểu cách đặc biệt – một quốc gia Á châu không hề cảm thấy lạc lõng nếu như thình lình bỏ vào giữa những biên giới Âu châu” (18). “Chúng tôi dọn vào căn nhà mới của mình” anh nhớ lại “và chẳng bao lâu sau đã bắt đầu chuẩn bị chào đón ngày nghỉ Nhật Bản lạ lùng đầu tiên: Halloween”. Anh trích lời giải thích của học giả Mỹ Donald Richie, người từng sống và dạy học ở Nhật trong năm mươi năm, rằng giới học sinh Nhật trẻ tuổi ngày nay không thể hiểu được thế giới của cha mẹ mình, với các tập tục hình thức, tính cách và phép xã giao. “Họ không hiểu một điều gì về hệ thống gia đình của mình bởi vì loại gia đình ấy không còn hiện hữu nữa”. Richie nói. “Do đó tôi phải xây dựng lại cho họ”. Phép lịch sự cổ truyền rắc rối phức tạp của người Nhật dùng đến trong các phim ảnh nghe xa lạ đối với họ, như thể chúng đến từ một thế giới đã “tan biến” nơi nào.

(Còn tiếp)

14. Theo Samuel P. Huntington, “The West:Unique, Not Universal”, Foreign Affairs 75, số 6, (Nov./Dec. 1996) tr.
28-46

15. Theo Kishore Mahbubani. “Will India Emerge as an Eastern or Western Power ?” (Center for the Advance Study of India, Penn Club, New York, Nov. 9. 1999); Indra Jit Basu “Western Wear Rivals the Indian Sari”, Asia Times Online, May 10, 2007.

16. Theo Fabrizio Gilardi, Jacint Jordana và David Levi-Faur, “Regulation in the Age of Globalization: The
Diffusion of Regulatory Agencies across Europe and Latin America” IBEI Working Paper, 2006, tr. 1

17. Theo Jason Overdorf “Bigger than Bollywood”, Newsweek International, Sept. 10, 2007.

18. Theo Christian Caryl “Turning Un-Japanese, “ Newsweek International, Feb., 13, 2006.

Nguyên tác: Fareed Zakaria

Hinterlasse einen Kommentar

Eingeordnet unter Dịch Thuật

MỘT THẾ GIỚI HẬU HOA KỲ (THE POST-AMERICAN WORLD)

Một Thế Giới Phi Tây Phương
(Tiếp theo)

 

Kỳ 3
Những Bổng lộc của Chiến thắng

Sự tiếp xúc với phần còn lại của thế giới đã khuyến khích Âu châu. Công cuộc khám phá ra những đường biển mới, các nền văn minh phong phú và những con người xa lạ đã khuấy động năng lực và trí tưởng tượng của phương Tây. Đi đến đâu người châu Âu cũng tìm được thêm hàng hóa, thị trường và các cơ hội. Vào thế kỷ mười bảy, các quốc gia phương Tây đã tăng cường ảnh hưởng của mình đến tất cả các khu vực và các nền văn hóa mà họ từng tiếp xúc. Không một phần nào của thế giới lại bị bỏ quên, từ những đất đai dọc ngang Atlantic xa mãi đến Phi châu và Á châu. Đến cuối thế kỷ thứ mười tám, ngay cả Úc châu và các đảo nhỏ của vùng biển nam Thái Bình Dương cũng đã được ghi dấu bởi những người Âu châu. Miền Viễn Ðông – Trung Quốc và Nhật Bản – thoạt tiên vẫn còn cách ly khỏi những ảnh hưởng này, nhưng đến giữa thế kỷ mười chín họ cũng trở thành nạn nhân trong bước tiến của người Âu châu. Cuộc vươn dậy của Tây phương đã dẫn đến các bước đầu cho một nền văn minh toàn cầu – một nền văn minh đã được xác định, nhào nặn và thống trị bởi các nước Âu châu phương Tây.

Thoạt tiên, người Âu châu chỉ chú trọng đến việc tìm kiếm những sản phẩm nào được cần đến ở quê nhà. Điều này đạt được qua con đường giao thương, đôi khi cả bằng cách đi ăn cướp. Họ đã mang về các loại lông thú từ châu Mỹ, các hương liệu từ Á châu, vàng bạc từ Brazil. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, các liên hệ của họ trở nên thường trực hơn. Tùy theo khí hậu từng vùng mà các quyền lợi của họ khác nhau. Ở những khu vực ôn hòa, bắt đầu từ nam và bắc Mỹ, người Âu châu đã chiếm làm thuộc địa, tạo nên các xã hội kiểu châu Âu ở những nơi xa xôi. Đó là sự bắt đầu của cái mà họ từng gọi là vùng Tân Thế Giới. Ở những vùng đất khó sinh sống, thường là những vùng nhiệt đới như ở Phi châu và Đông Nam Á, họ đã tạo dựng nên một hệ thống nông nghiệp để canh tác tạo ra mùa màng có thể sử dụng được ở thị trường nội địa. Người Hà Lan đã dựng nên những trang trại bạt ngàn ở Ðông Ấn và người Bồ Ðào Nha cũng đã thiết lập những trang trại như thế ở Brazil. Những cơ ngơi này chẳng bao lâu đã bị mờ nhạt đi bởi các đồn điền của người Pháp và người Anh ở Caribean, nơi họ sử dụng người Phi châu như những kẻ nô lệ.

Chỉ trong một trăm năm kể từ cuộc giao tiếp ban đầu của người Âu châu, một chiều hướng không thể lầm lẫn và không thể đảo ngược được là: những va chạm này hoặc là đã thay đổi hoặc đã hủy diệt các sắp xếp sẵn có về kinh tế, chính trị, xã hội ở các xã hội phi tây phương này. Nền trật tự cũ bị xụp đổ, bị hủy diệt hay có khi là một loại phối hợp của cả hai. Điều này đã là một sự thực, bất kể là quốc gia ấy to nhỏ ra sao, từ một đất nước nhỏ bé như Burma, nơi có cơ cấu truyền thống đã nát bấy dưới ách cai trị của người Anh, đến các bộ lạc rộng lớn ở Phi châu, nơi người Âu châu đã kẻ lại các đường biên giới, tạo nên các khu vực mới để đưa những nhóm họ ưa chuộng lên ngôi quyền lực. Trong nhiều trường hợp, sự can thiệp từ bên ngoài này đã mang đến nền hiện đại hóa ngay cả đôi khi đi kèm với sự tàn bạo. Trong các trường hợp khác, ảnh hưởng của Âu châu là một sự giật lùi, phá hủy đi những cái cũ nhưng không tạo được gì nhiều để thay thế. Trong bất cứ tình huống nào thì châu Mỹ, Á và châu Phi đã mãi mãi bị đổi thay và không thể trở ngược lại từ sự khám phá của phương Tây.

Sự chỉ đạo cuộc bành trướng châu Âu đã được quyết định bởi tính cân bằng của quyền lực. Trong một vài thế kỷ, bất chấp ưu thế của các đại dương, các quốc gia Âu châu đã không có lợi thế quân sự hơn Thổ Nhĩ Kỳ và Ả Rập. Do đó họ đã giao thương – chứ không tìm cách thống trị – với các phần đất Trung Ðông và Phi châu mãi cho đến thế kỷ mười chín. Ở Á châu, thay vì thiết lập nên những cơ quan, các trạm giao thương và tự thoả mãn với các phần thừa bỏ đi của Trung Hoa, người Âu châu nhìn ra được một số ngả dễ dàng để đi vào đại lục. Ngược lại, ở châu Mỹ và châu Phi, người Âu châu hiểu rằng họ hoàn toàn mạnh hơn người bản xứ. Cuộc bành trướng của người Bồ Ðào Nha bắt đầu ở Phi châu bằng cách di chuyển vào Congo và Zanbezi ngay từ đầu thế kỷ mười sáu. Nhưng khí hậu ở đây hết sức bất tiện để lưu lại do đó họ đã quay về ngả tây của bán cầu.

Châu Mỹ là một sự nhầm lẫn – Columbus đã đang tìm kiếm một con đường đến Ấn Ðộ rồi đụng phải một vật cản vĩ đại – nhưng kết cục lại là một sự may mắn. Châu Mỹ đã trở nên một thứ vòi xả (valve) vĩ đại của Âu châu trong suốt bốn trăm năm. Người châu Âu đã rời xứ sở để đến Tân Thế Giới vì nhiều lý do khác nhau – nghèo, đông đúc và những vụ bách hại vì tôn giáo ở quê nhà hoặc chỉ đơn giản là các ước mơ thám hiểm – và khi đặt chân đến, họ đã tìm ra các nền văn minh rất sâu sắc ở một số phương diện nhưng lại quá ấu trĩ về quân sự. Những nhóm người Âu châu nhỏ bé – Cortés, Pizarro – đã có thể đánh bại những đội quân bản xứ đông đảo. Điều này, phối hợp với những loại bệnh tật Âu châu mà người bản xứ không thể chịu nổi, đã dẫn đến sự hủy diệt toàn bộ các bộ lạc và văn hóa bản địa.

Thực dân hóa có khi đã được thực hiện không phải bởi các quốc gia mà từ những công ty liên doanh. Các công ty Hà Lan và Công ty Đông Ấn của Anh được cấp phép độc quyền, đã được tạo nên để chấm dứt các cạnh tranh giữa thương nhân của mỗi quốc gia. Compagnie des Indes, công ty tương đương của Pháp, là một công ty quốc doanh độc lập, nhưng công ty thương mại này chỉ quan tâm đến lợi nhuận chứ không hề chú trọng đến lãnh thổ, nhưng một khi đã đầu tư vào các vùng mới họ đều muốn sự ổn định và dễ kiểm soát. Trong khi đó, các quyền lực của Âu châu lại muốn loại các quốc gia đối nghịch ra. Từ đó họ bắt đầu cướp đất đai và xây dựng nên sự kiểm soát chính thức, trong đó Anh Quốc đã trở nên mạnh và lớn nhất.

Sự kiểm soát chính thức đã dẫn đến các tham vọng lớn. Người Tây phương bắt đầu từ tiền bạc đã vượt xa đến quyền lực, ảnh hưởng và văn hóa. Tùy theo quan điểm của quý độc giả mà đã trở nên không thực tiễn hoặc lý tưởng. Các định chế, thực hành và tư tưởng Âu châu được mang đến và áp dụng, dù có luôn giữ sự ưu tiên có tính giống chủng – chẳng hạn như hệ thống toà án Anh Quốc khi được mang đến Ấn Ðộ, các quan tòa người Ấn vẫn không được phép xét xử người da trắng. Trải qua thời gian, tác động của Âu châu trên các thuộc địa của họ thật là lớn. Niall Ferguson đã lý luận rằng Đế quốc Anh phải chịu trách nhiệm cho sự lan tràn của tiếng Anh, hệ thống ngân hàng, các luật lệ phổ thông, Thệ Phản giáo, các đội tranh tài thể thao, các đất nước giới hạn, các đại diện chính phủ và các tư tưởng về tự do trên toàn thế giới (11). Một lập luận như thế có thể che đậy cái đạo đức giả và sự tàn bạo sự kiểm soát của đế quốc – các bổng lộc kinh tế phi pháp, những vụ bức hại lớn lao, các tra tấn, tù đày giam cầm. Một số nước – chẳng hạn như Hà Lan và Pháp – có thể ngụy biện với nguồn gốc Anh độc quyền về những tư tưởng ấy. Nhưng dù ở trường hợp nào, thật không thể chối cãi được rằng các tư tưởng Âu châu đã phủ kín toàn cầu từ hậu quả của những sự khống chế hoàn toàn ấy.

Ngay cả ở vùng Viễn Đông, nơi mà phương Tây chưa từng áp đặt sự thôn tính chính thức, ảnh hưởng của châu Âu thật là vĩ đại. Khi triều đại nhà Thanh yếu đuối thiếu năng lực tìm cách cấm việc buôn bán nha phiến vào đầu thế kỷ mười tám, Anh Quốc – đất nước có tài sản gắn chặt với các nguồn thu từ nha phiến – đã tổ chức tấn công bằng đường biển. Cuộc chiến Anh-Tàu này, thường được gọi là chiến tranh nha phiến đã làm nổi bật hố ngăn cách sức mạnh giữa hai quốc gia. Khi ký kết các hiệp định vào năm 1842, Bắc Kinh đã buộc phải đồng ý với một loạt nhượng bộ và phải khôi phục lại việc buôn bán nha phiến: phải nhường mất Hongkong, mở năm hải cảng cho cư dân Anh Quốc, cho phép công dân Anh được đặc miễn khỏi các luật pháp của Trung Quốc và phải bồi thường một khoản tiền lớn. Năm 1853, những chiếc tàu Âu châu – lần này là của Mỹ – đã đi vào vùng hải phận của Nhật Bản, chấm dứt chính sách „ẩn dật‘ của Nhật Bản đối với thế giới. Sau đó Nhật Bản đã ký hàng loạt những thỏa ước về giao thương dành cho các nước Tây phương và công dân của họ nhiều đặc quyền. Những sự chiếm đóng chính thức cũng phát triển, tăng ra đến các vùng đất đai của Đế quốc ốm yếu Ottoman như Phi châu nữa. Tiến trình thống trị này lên đến cao điểm vào đầu thế kỷ hai mươi khi một số nhỏ các nước tư bản Âu châu đã cai trị được 85 phần trăm đất đai của cả thế giới.

Công cuộc Tây phương hóa

Vào năm 1823, Công ty Đông Ấn quyết định xây dựng một trường học ở Calcutta để đào tạo người bản xứ. Điều này trông có vẻ thẳng thắn và rõ ràng. Nhưng chính sách này đã bừng cháy lên một lá thư nóng bỏng của Raja Ram Mohan Roy, một người lãnh đạo công dân hàng đầu ở Calcutta gởi đến William Pit, thủ tướng Anh, lá thư này đáng để được trích lại một đoạn dài như sau:
Khi ngôi trường được đề nghị xây… chúng tôi tràn ngập niềm tin lạc quan rằng chương trình sẽ được thiết lập bao gồm việc tuyển mộ quý ngài người Âu châu có tài năng về giáo dục để hướng dẫn người địa phương Ấn Ðộ trong các bộ môn Toán học, Vật lý tự nhiên, Cơ thể học và các ngành khoa học hữu ích khác, mà các đất nước ở Âu châu đã đạt đến một trình độ hoàn hảo khiến đã nâng họ lên cao hơn hẳn những dân chúng ở các nơi khác trên thế giới.

Giờ đây chúng tôi mới biết được rằng Chính phủ đang thành lập một trường Phạn ngữ dưới sự chỉ đạo của Những bậc Uyên thâm của Ấn Ðộ giáo để truyền đạt những loại kiến thức vốn đã được thịnh hành ở Ấn Ðộ. Nhà trườngnày… chỉ có thể được trông mong để nhồi nhét vào tâm trí giới trẻ những cái hay đẹp của văn chương cùng những sắc xảo của siêu hình học vốn vô giá trị hoặc chẳng có ích lợi gì nhiều cho người thủ đắc hay xã hội…

Phạn ngữ hết sức khó, đến mức phải cần đến gần như cả đời người để có thể đạt được một sự am hiểu toàn thiện, từng nổi tiếng qua nhiều thời đại như một trở ngại đáng tiếc cho sự truyền bá kiến thức… Ngay cả sẽ không mang đến được nhiều tiến bộ do nảy sinh từ những suy xét như: những chủ đề nào sẽ được áp dụng? Linh hồn được thấm nhập vào thần thánh như thế nào? Linh hồn ở vị trí nào đối với bản chất của thiêng liêng?… Tôi xin phép nhà nước, cùng lòng tôn kính đến địa vị cao cả của ngài, rằng nếu kế hoạch hiện đã được chấp thuận và đang chuẩn bị thi hành, sẽ hoàn toàn làm thất bại các mục tiêu nhắm đến… (12).

Hãy nhớ đến lá thư này, bất cứ khi nào quý bạn nghe đến một loại tranh cãi rằng công cuộc Tây phương hóa chỉ thuần túy là những sự việc liên quan đến sức mạnh và vũ trang. – Và hàng trăm lá thư, giác thư và các mệnh lệnh như thế này. Đã có một tính ép buộc đàng sau việc lan truyền các tư tưởng Âu tây, nhưng cũng có rất nhiều người không phải là người Âu lại tha thiết muốn học các phương cách của Tây phương. Nguyên nhân của sự thể này thì thật là đơn giản. Họ muốn được thành công, và con người thường có khuynh hướng muốn bắt chước những người thành công.

Năng lực khác thường của Tây phương trong việc tích lũy của cải và phát khởi chiến tranh lên các nước láng giềng thực là rõ ràng vào thế kỷ mười bảy. Một trong những sự việc này là vua Peter của nước Nga vĩ đại đã từng bỏ ra nhiều tháng trời đi khắp châu Âu và sững sờ bởi nền kỹ nghệ và quân sự của họ. Quyết chí học hỏi từ những nước này, ngài trở về nước ban hành một loạt những cải cách cấp tiến: tái tổ chức lại quân đội theo lối Âu châu, hiện đại hóa nền hành chính, dời kinh đô từ một Moscow có tính Á châu đến vị trí mới là một thành phố kiểu châu Âu ở ngạn Tây của đế quốc Nga, mà ông đặt tên là thành phố St.Pesterburg. Ông sửa lại biểu thuế quan và còn chắp vá thêm cơ cấu của Giáo hội Chính thống Orthodox cho giống Tây phương hơn. Nam giới bị yêu cầu phải cạo râu, mặc quần áo theo lối Tây phương. Nếu người nào cứ theo lối cũ sẽ phải đóng thuế để râu một trăm rúp ben một năm.

Kể từ thời đại đế Peter, đã có đến một danh sách dài ngoằng những bậc lỗi lạc không phải là người Âu đã tìm cách mang các tư tưởng của phương Tây vào xứ sở của mình. Một số đã từng tỏ ra cấp tiến như vua Peter. Có lẽ người nổi tiếng nhất trong số này chính là Kemal Ataturk, từng khẳng định rằng Thổ Nhĩ Kỳ cần phải buông bỏ quá khứ để đi theo văn hóa Âu châu nhằm „đuổi kịp“ với Tây phương. Ông đã sáng tạo ra một nền dân chủ thế tục, đặt ra mẫu tự La mã cho chữ viết của người Thổ, xóa bỏ việc sử dụng các khăn trùm mặt và loại mũ fez của người Thổ đồng thời triệt hạ tất cả những tôn giáo có nguồn gốc từ vua chúa Ottoman. Trước đó, vào năm 1885 ở Nhật Bản, Yukichi Fukuzawa, lý thuyết gia vĩ đại của công cuộc cải cách Meiji, đã viết một luận thuyết quan trọng mang tên „Hãy rời bỏ châu Á“, trong luận thuyết này, ông lập luận rằng Nhật Bản cần phải quay lưng lại với các nước Á châu, đặc biệt là Trung Hoa và Triều Tiên, để chọn lựa, chia xẻ với các quốc gia văn minh ở phương Tây“. Nhiều nhà cải cách Trung Quốc cũng đã có những lập luận tương tự. Tôn Dật Tiên đã thẳng thừng thừa nhận thế thượng phong của Âu châu và nhu cầu phải bắt chước họ.

Vị thủ tướng đầu tiên của nước Ấn Độ độc lập, ông Jawaharal Nehru, đã tin rằng muốn kết thúc sự „lạc hậu“ của đất nước cần phải vay mượn kinh tế và chính trị từ phương Tây. Từng được đào tạo ở Harrow và Cambridge, ông đã có một dự phóng về nền tự do Tây phương: ông từng tự nhận mình là „một người Anh cuối cùng lãnh đạo nước Ấn Độ“. Những bậc đương thời với Nehru trên thế giới cũng thấm tư tưởng Tây phương như nhau. Các lãnh tụ hậu thực dân từng cố gắng giải phóng chính mình khỏi chính trị Tây phương nhưng vẫn muốn dùng con đường Âu châu để đi đến nền hiện đại. Ngay cả người chống Tây phương gay gắt như Gabal Abdul Nasser của Ai Cập cũng ăn mặc âu phục chỉnh tề và háo hức đọc lịch sử Tây phương. Nguồn gốc các tư tưởng cho chính sách của ông chính là từ các học giả Anh, Pháp và Hoa Kỳ. Bộ phim điện ảnh mà ông ưa thích là phim It’s a Wonderful Life của Frank Capra.

Chúng ta thường nhớ lại những nhà lãnh đạo nồng nhiệt, hùng biện chống Tây phương và thiên về chủ nghĩa Marx đồng thời chúng ta nhìn họ như những người cự tuyệt với Tây phương. Thực ra họ đã vay mượn các truyền thống tiến bộ của phương Tây. Marx, Engels, Rosa Luxemburg và Lenin đều chính là những trí thức Tây phương. Ngay cả hiện nay khi người châu Á phê bình chỉ trích phương Tây, họ vẫn thường phải dùng đến những lập luận từng được khai triển ở London, Paris hay New York. Cuốn băng video chỉ trích Hoa Kỳ hồi năm 2007 của Osama bin Laden – cũng chứa đựng những trích dẫn của Noam Chomsky về sự bất công, cuộc khủng hoảng nợ nhà và mối cảnh báo về hiện tượng địa cầu tăng nhiệt – vốn có thể được viết bởi một học giả tả phái ở Berkeley. Trong tác phẩm Youth của Joseph Conrad, người kể chuyện đã nhớ lại cuộc gặp gỡ “đông phương” lần đầu của mình: “Thế rồi, trước khi tôi có thể mở miệng, Đông phương đã nói với tôi, nhưng lại bằng một giọng Tây phương… giọng nói ấy đầy những nguyền rủa, tục tằn một cách hung bạo; giọng nói ấy đã giải thích sự yên bình trầm lắng của hải cảng bằng quả bóng chuyền trật lất. Bắt đầu gọi tôi là loài Lợn, rồi từ đó lại dâng cao dần đến những tĩnh từ không thể nhắc lại được – bằng Anh ngữ”.

Các độc giả không phải người Tây phương vốn ngưỡng mộ Tây phương đã hết sức ấn tượng với tính ưu việt của phương Tây trong việc tạo nên thịnh vượng và chiến thắng cuộc chiến tranh. Sau khi bị đánh bại bởi người Âu châu ở Vienna vào năm 1683, đế chế Ottoman đã quyết định mình phải học hỏi phương cách của kẻ địch. Họ đã mua vũ khí từ Âu châu, khởi sự nhập khẩu các tài năng về tổ chức, kỹ thuật và các loại phong cách, suy nghĩ. Đến thế kỷ mười chín, các vị chỉ huy ở vùng Trung Á đã tổ chức lính tráng của mình theo lối quân đội Tây phương, với các sĩ quan tướng tá, tiểu đoàn, trung đoàn như họ (13). Các quân đội trên thế giới đều đồng quy về một kiểu Tây phương duy nhất. Ngày nay, dù ở Trung Quốc, Nam Dương hay Nigeria, các lực lượng vũ trang của một quốc gia phần lớn đã tiêu chuẩn hóa quanh khuôn mẫu của Tây phương trong thế kỷ mười chín.

Những người như Roy, Fukuzawa và Nehru không hề tranh cãi phản đối gì về tính ưu việt văn hóa có tính bản chất. Họ không phải là Chú Tom. Trong lá thư của Roy, ông đã lập đi lập lại các so sánh ngành khoa học của Ấn Độ và thời đại của ông với khoa học Âu châu trước thời Francis Bacon. Chính là lịch sử chứ không phải yếu tố di truyền là chủ điểm. Tôn Dật Tiên rất quen thuộc mật thiết với các hào quang quá khứ cùng sự phong phú về truyền thống ham học của nước Trung Hoa. Fukuzawa là một học giả về lịch sử Nhật Bản. Nehru đã trải qua nhiều năm trời trong những nhà tù ở Anh Quốc để viết lên những trang sử về chủ nghĩa quốc gia ái quốc của Ấn Độ. Tất cả những danh nhân này đều tin vào các hào quang của các nền văn hóa riêng của mình. Nhưng họ cũng tin rằng vào thời điểm lịch sử ấy để có thể thành công về kinh tế, chính trị và quân sự, họ phải vay mượn từ phương Tây.

(Còn tiếp)

11. Theo Niall Ferguson, Empire:The Rise and Demise of the British World Order and the Lessons for Global Power (New York: Basic Books, 2004).

12. Trích theo Braj B. Kachru The Indianization of English:The English Language in India (Oxford:Oxford University Press, 1983) tr. 59-60.

13. Theo Max Boot, War made New:Technology, Warefare, and the Course of History, 1500 to Today (New York:
Gotham Book, 2006). Trong cuốn “The West and The Middle East” Bernard Lewis trình bày các hậu quả của hiện đại hóa quân sự đã tác động lên xã hội Ottoman như thế nào. Xây dựng được những sĩ quan tướng lãnh quân đội giỏi hơn có nghĩa là thay đổi cơ chế giáo dục và tạo nên một quân đội năng động có nghĩa là đầu tư rất nhiều vào đường xá và cơ cấu hạ tầng. Do đó chúng ta thúc đẩy cũng phải thắng những cuộc chiến dẫn đến những thay đổi về kinh tế và văn hóa.

Nguyên tác: Fareed Zakaria

Hinterlasse einen Kommentar

Eingeordnet unter Dịch Thuật